Đại Dạo Tam Kỳ Phổ Dộ

header bright

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2020

Thứ Ba, 24 tháng 3, 2020

Ngọc Lộ Kim Bàn



NGỌC LỘ KIM BÀN
 Ngọc Lộ Kim Bàn Có hai quyển: 
1. đã có từ 1931 do Lâm Xương Quang Diễn Nghĩa. Khi qua VN được dịch lại ấn tống 1933, từ đó tam sao thất bổn, đánh máy lại nhiều lần ... nên ít có lưu truyền... 2014, đã soạn lại nhưng có chỗ (???) không hiểu. Có tìm bản chữ Hán nhưng chưa gặp. 
 2. Trong lúc không biết là sao vô tình nghe băng đọc bản Chấp Bút... Người dọc hơi khó nghe... nên ghi lại và ấn tống nhưng khi nghe lại vẫn còn có chỗ không đúng như câu : "Dìu Nhơn sanh hướng ngõ môn thiền", Đúng ra là: Dìu Nhơn Sanh hướng ngõ Môn Thiên hay Thiên Môn thì đúng hơn. Điều tôi muốn nhắn nhủ với quý vị: Thay vào bộ quần áo cổ trang chúng ta nên cho các nhân vật mặc quần áo thời hiện nay... thì sẽ hiểu tất cả...
Share:

03 Thánh Giáo Đức Gia Tô Giáo Chủ (3)


Thánh Giáo Đức Gia Tô Giáo Chủ (3)
Share:

02 Thánh Giáo Đức Gia Tô Giáo Chủ (2)


Thánh Giáo Đức Gia Tô Giáo Chủ (2)
Share:

01 Thánh Giáo Đức Gia Tô Giáo Chủ (1)


Thánh Giáo Đức Gia Tô Giáo Chủ (1)
Share:

05 Thánh Giáo Đông Phương Lão Tổ (phần 5)


Thánh Giáo Đông Phương Lão Tổ (phần 5)
Share:

04 Thánh Giáo Đông Phương Lão Tổ (phần 4)


Thánh Giáo Đông Phương Lão Tổ (phần 4)
Share:

03 Thánh Giáo Đông Phương Lão Tổ (phần 3)



03 Thánh Giáo Đông Phương Lão Tổ (phần 3)
Share:

02 Thánh Giáo Đông Phương Lão Tổ (phần 2)


Thánh Giáo Đông Phương Lão Tổ (phần 2) 
Share:

01 Thánh Giáo Đông Phương Lão Tổ (phần 1)


Thánh Giáo Đông Phương Lão Tổ (phần 1)
Share:

Thứ Hai, 23 tháng 3, 2020

Bồ Tát chỉ ngồi để thấy...

Bồ Tát chỉ ngồi để thấy...
(Chuyện Cái Kén Cuả Con Bướm)


Một người nọ nhìn thấy cái kén của con bướm. Sau đó, anh thấy một cái lổ nhỏ xuất hiện. Anh ngồi chăm chú theo dõi con bướm trong vài giờ đồng hồ và thấy nó cố gắng vùng vẫy tìm cách chui ra ngoài qua cái lỗ nhỏ đó. Rồi dường như nó không có thêm một tiến triển nào nữa. Trông cứ như thể nó đã làm hết mức có thể rồi và không thể xoay xở gì thêm được.


Thấy tội nghiệp nên người đàn ông quyết định giúp con bướm. Anh lấy một cái kéo và cắt cái kén. Con bướm dễ dàng thoát ra. Nhưng nó có một cái thân căng phồng và đôi cánh nhỏ bé, teo quắt. Thế là, con bướm đó sẽ phải bỏ ra suốt cả cuộc đời nó chỉ để bò trườn với cơ thể sưng phồng và đôi cánh co lại. Nó không bao giờ bay được...


Cho nên Quy tắc thứ ba của người Ấn độ : "Trong mỗi khoảnh khắc mọi sự đều bắt đầu vào đúng thời điểm".


Người đàn ông tốt bụng đã không hiểu rằng chiếc kén chật hẹp và sự vùng vẫy của con bướm để chui qua được cái lỗ nhỏ ấy chính là cái cách mà Tạo Hóa buộc chất lỏng trong thân con bướm chảy vào cánh để sẵn sàng cho nó có đủ sức mạnh để cất cánh bay...


Vì vậy, đừng bao giờ tin vào quan niệm Bồ Tát độ mình cả, nếu Bồ Tát đến độ mình tức là Bồ Tát can thiệp vào việc mình cần phải làm là để thoát ra khỏi cái kén (thoát khỏi vô minh) chính mình là người cần phải mở ra mọi cái mà mình đã trói buộc vào, không có Bồ Tát nào làm thay cho mình...


 Quan niệm Bồ Tát cứu độ bị hiểu sai kiểu như người mẹ giúp con " thôi con đừng đánh vần để mẹ đánh vần cho... Con đừng làm toán để mẹ làm toán cho...vân vân...và vân vân..."


Bồ Tát chỉ ngồi để thấy, để xem mình đau khổ như thế nào và thoát khỏi đau khổ như thế nào... mà tâm Ngài vẫn hoàn toàn bất động, đó mới chính là Bồ Tát chân chính nhất.


Qua câu chuyện trên, con nhộng chỉ cần đợi thêm một chút nữa, nó có thể tự vùng vẫy thoát ra khỏi cái kén, thì nó mới đủ sức mạnh cất cánh bay cao... cũng như con người ta cần phải chịu đựng đau khổ them một chút nữa thì mới có được bài học Giác Ngộ cho chính mình... Thế cho nên, Bồ Tát chỉ khai thị mà không có cứu độ... khai thị cho mọi người thấy ra mọi cái đã có sẳn nơi mỗi người, và để mọi người biết tự trở về với chính mình...


Trong Phật Giáo không có quan niệm có người khác cứu độ... đừng xin xỏ mong cầu mà trở thành mê tín...Đức Phật dạy, Pháp hộ trì người sống đúng Pháp, thuận Pháp... Những người sống thuận Pháp, khi gặp chuyện thì tự động có Chư Thiên hộ Pháp hộ trì... Cũng như một người sống đúng tốt thì được nhiều người tin tưởng giúp đỡ... Chân lý chính là Thực Tế chứ không phải ảo tưởng ...


Thiền sư Viên Minh
Share:

Của Mình - Của Người

Của Mình - Của Người 

Xưa có một cô gái mồ côi cha mẹ, không ai nuôi. Cô phải đi ăn xin ngoài chợ. Tối lấy chiếu quấn nằm ngủ. Một hôm nghe nói Rằm Tháng Bảy cúng dường Tam Bảo có phước lắm, cô tự nghĩ làm sao mình tạo phước để khỏi nghèo khổ nữa.
Hôm đó xin được có hai xu, cô muốn cúng cái gì mà chư Tăng trong chùa đều hưởng được hết. Nghĩ vậy cô mua hai xu muối, đem vô chùa năn nỉ vị nấu cơm: "Con xin được có hai xu để mua muối, xin được cúng hết chư Tăng trong chùa, mong người giúp cho". Vị ấy liền bỏ nắm muối của cô vào nồi canh to, thế là chư Tăng đều được hưởng đầy đủ. Bẵng đi một thời gian dài, cô cũng không còn nhớ chuyện cúng
muối nữa.
 
Lần lần lớn khôn, cô càng xinh đẹp lạ thường. Khi đó trong triều đình nhà Vua muốn chọn người làm vợ Thái Tử nhưng thấy mỹ nhân nào Thái Tử cũng từ chối. Vua ra lệnh cho các quan tìm người nào Thái Tử vừa ý sẽ được trọng thưởng. Bấy giờ một ông quan đi ngang vùng đó, thấy trên trời có vầng mây đỏ, ông nghĩ nơi đây chắc có dị nhân phước lớn.
Giờ trưa, trên đường trở về, ông thấy cô bé khoảng 16 tuổi đang trùm chiếu ngủ. Ông đến gần nhìn, bất chợt cô bé thức dậy tốc chiếu ra. Thấy người con gái đẹp đẽ phi thường lại sống đầu đường xó chợ như vậy, ông tội nghiệp đem về nuôi. Cô được cho ăn mặc dạy dỗ đàng hoàng, tới năm cô 18 tuổi ông dẫn đến trình nhà Vua. Vua gọi Thái Tử lại, vừa thấy cô bé Thái Tử đẹp lòng ngay. Cô được Đông Cung Thái Tử cưới làm vợ. 
 
Khi Vua băng hà, Thái Tử lên ngôi vua và cô bé trở thành Hoàng Hậu. Khi làm Hoàng Hậu cô cứ nghĩ, không biết mình đã làm gì mà  được phước thế này. Chừng ấy mới nhớ chắc do việc cúng muối năm xưa mà ra. Một hôm, Hoàng Hậu sắm đủ thứ vật dụng sang trọng truyền chở vô ngôi chùa ngày xưa. 
 
Nhưng lúc trước chỉ với hai xu muối của cô bé ăn xin, mà thầy trụ trì nói bữa nay có đại thí chủ đến cúng dường, bảo chư Tăng đánh chiêng trống đón. Bây giờ Hoàng Hậu đem nhiều tài vật đến nhưng thầy trụ trì không đánh chuông trống đón. 
Lấy làm lạ, Hoàng Hậu gặp thầy trụ trì hỏi "Thưa Thầy, ngày xưa con là đứa ăn mày, chỉ cúng dường có hai xu muối mà nghe chuông trống đánh rình rang. Ngày nay, con là Hoàng Hậu cúng cả xe trân bảo mà không nghe chuông trống gì
hết?”.
Thầy đáp:
"Ngày xưa hai đồng xu rất quý vì đó là mạng sống của con. Muốn cúng chùa con phải nhịn đói, nên hai xu ấy lớn vô cùng. Ngày nay con là Hoàng Hậu, của cải đầy xe nhưng đó là của dân chớ đâu phải của con.
Lấy của người làm phước cho mình thì đâu có gì quan trọng.
 
Nghe vậy Hoàng Hậu giật mình, thức tỉnh.
 
 

 Sưu tầm

Share:

Thứ Bảy, 21 tháng 3, 2020

03- Lòng Từ Mẫu 1965-1969 - Thiên Đạo Vô Vi


03- Lòng Từ Mẫu 1965-1969 - Thiên Đạo Vô Vi
Share:

02- Lòng Từ Mẫu 1965-1969 - Thiên Đạo Vô Vi


02- Lòng Từ Mẫu 1965-1969 - Thiên Đạo Vô Vi
Share:

01- Lòng Từ Mẫu 1965-1969 - Thiên Đạo Vô Vi


01- Lòng Từ Mẫu 1965-1969 - Thiên Đạo Vô Vi
Share:

Gương hạnh tu Đức Ngô Minh Chiêu


Gương hạnh tu Đức Ngô Minh Chiêu
Share:

04 Lời dạy của các Đấng Thiêng Liêng 04


04 Lời dạy của các Đấng Thiêng Liêng 04
Share:

03 Lời dạy của các Đấng Thiêng Liêng 03


03 Lời dạy của các Đấng Thiêng Liêng 03
Share:

02 Lời dạy của các Đấng Thiêng Liêng 02


02 Lời dạy của các Đấng Thiêng Liêng 02
Share:

01 Lời dạy của các Đấng Thiêng Liêng 01


01 Lời dạy của các Đấng Thiêng Liêng 01
Share:

Lòng Từ Mẫu 1B


Lòng Từ Mẫu 1B
Share:

Lòng Từ Mẫu 1A


Lòng Từ Mẫu 1A
Share:

Vạn Hạnh Thiền Sư B

Vạn Hạnh Thiền Sư B
Share:

Vạn Hạnh Thiền Sư A

Vạn Hạnh Thiền Sư A
Share:

Thánh giáo chọn lọc B


Thánh giáo chọn lọc B
Share:

Thánh giáo chọn lọc A

Thánh giáo chọn lọc A
Share:

Thánh giáo của Đức Chí Tôn (Bài 21 - 30)


Thánh giáo của Đức Chí Tôn (Bài 21 - 30)
Share:

Thánh giáo của Đức Chí Tôn (Bài 11-20)


Thánh giáo của Đức Chí Tôn (Bài 11-20)
Share:

Thánh giáo của Đức Chí Tôn (Bài 1 - 10)


Thánh giáo của Đức Chí Tôn (Bài 1 - 10)



Share:

Khí công bát cẩm đoạn



Khí công bát cẩm đoạn
Share:

The Life Of Jesus Christ



The Life Of Jesus Christ
Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô
Share:

Đường lối hành đạo Cao Đài Tiên Thiên


Đường lối hành đạo Cao Đài Tiên Thiên

Share:

Khí công Bát Đoạn Cẩm Thể Dục Hạnh Phúc


Tự tập bài khí công Bát Đoạn Cẩm Thể Dục Hạnh Phúc
Share:

Bay khỏi mặt đật với công phu trì chú


Bay khỏi mặt đật với công phu trì chú
Share:

Thấu Hiểu Bản Thân Qua Thần Số Học


Thấu Hiểu Bản Thân Qua Thần Số Học
Share:

Thần số học là gì?


Thần số học là gì?
Share:

Thứ Tư, 18 tháng 3, 2020

Đạo Trưởng Chí Tín cuộc đời tu thân hành đạo

TỰ THUẬT CUỘC ĐỜI TU THÂN HÀNH ĐẠO CỦA CHÍ TÍN

I. CÁ NHÂN VÀ LIÊN HỆ GIA ĐÌNH
Sanh năm Mậu Ngọ (10-10-1918) tại thành phố Gò Công, nay thuộc Tiền Giang, trong gia đình tiểu thương nghèo.
Tộc danh là Lê Văn Bá. Thánh danh là Chí Tín.
Phụ mẫu: Cha là Lê Văn Còn, nguyên Giáo sư Phái Thượng Ban Chỉnh Đạo thuộc Hội Thánh Bến Tre của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (đạo Cao Đài), nguyên đầu họ Đạo Thánh Thất Bình Hòa, Gia Định, nay thuộc quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Ông đắc quả Minh Đức Đạo Nhơn, thường giáng cơ dạy đạo trong Cơ Quan Phổ Thông Giáo lý Cao Đài - nơi hai con Đạt Minh và Chí Tín hành đạo.
Mẹ là Phạm Thị Huỳnh, chức việc trong Ban cai quản Nữ phái của Thánh thất Bình Hòa, Gia Định.
Bào huynh là Lê Văn Non, Thánh danh Đạt Minh, nguyên giáo hữu họ Đạo Thánh Thất Bình Hòa, nhơn viên của Cơ Quan PTGLĐĐ, lãnh chức vụ từ Ngoại Giao Vụ, Nội Chánh Vụ, Tổng Thơ Ký đến ngày liễu đạo là Tham Lý Minh Đạo (trong tổ chức Cơ Quan PTGL Cao Đài Giáo Việt Nam từ buổi sơ khai cùng với Bào đệ là Chí Tín), ngày 13-8 Ất Sửu, 1985.
Hôn phối là Phạm Thị Mai, Thánh danh Bạch Đức, nhơn viên Ban chấp hành Nữ Chung Hòa, thuộc hệ thống Cơ Quan PTGL Đại Đạo.
Có 3 con, hai trai, một gái.

II. ĐỜI NIÊN THIẾU
Thuở nhỏ học trường tiểu học thành phố Gò Công. Đến năm 1932, theo cha mẹ di cư lên Bà Chiểu, Gia Định, vì nạn kinh tế khủng hoảng nên gặp khó khăn sanh sống ở quê nhà. Lên đây tiếp tục học trường tiểu học bà Chiểu cho đến khi thi đậu vào trường Trung học Pétrus Ký ở Chợ Quán (Saigon). Tốt nghiệp bằng trung học Pháp Việt (1938). Vì gia cảnh nên nghỉ học để thi vào làm thơ ký xưởng Ba Son (Arsenal) và sau 3 năm, thi đổ vào Sở thương chánh, được bổ về tỉnh Biên Hòa. Sau một năm, vì chiến tranh Pháp Đức và Nhật chiếm Đông Dương nên bỏ quan trường lên Đà Lạt làm quản lý bút toán một nhà máy cưa gỗ thông của hãng Đan Mạch vừa xây dựng vào đầu năm 1942. Đến 1946 trở lại Saigon buôn bán và làm việc hãng Đan Mạch ở Saigon chuyên xuất nhập cảng và đại lý các tàu biển ngoại quốc.
III. ĐỜI TU HÀNH THỜI NIÊN THIẾU
Lên 8 tuổi đã theo cha vào chùa Tịnh độ Phật giáo cư sĩ tại thành phố Gò Công để học tụng kinh Di Đà, Hồng Danh, Vu Lan, và Đại Bi. Vì tánh hay ngỗ nghịch, mỗi lần nghỉ hè, mẹ bắt theo đi viếng chùa chiền ở Bà Rịa, trên vùng núi non tĩnh mịch và được ký bán cho Hòa thượng Thiên Thai, danh sư nổi tiếng thời bấy giờ. Khi di cư lên Gia Định, cùng gia đình nhập môn vào đạo Cao Đài, tại Thánh thất Phú Nhuận vào tháng 3 năm 1933. Sau đó được vào học lớp Giáo huấn Đồng nhi lễ sĩ sau khi Thánh thất Bình Hòa dựng xong ở Bình Hòa xã, Gia Định.
Đi tìm Đạo trên núi Điện Bà Tây Ninh
Năm 1937, đang học năm thứ 4 trường Pétrus Ký để thi bằng Thành Chung, phát tâm xuất gia đi tìm minh sư trên núi non để học Đạo hầu tìm phương pháp độ đời giải khổ cho nhơn loại thoát khỏi vòng tứ khổ, mặc dầu đã nhập môn và học hết khóa huấn luyện Đồng Nhi lễ sĩ ở Thánh thất Bình Hòa rồi mà chưa thỏa mãn tham vọng xuất gia tìm minh sư học đạo giải thoát chớ không có mộng cầu làm Tiên Phật riêng tư. Trước để tìm học bào chế thuốc men trị bịnh, nghiên cứu cây cỏ hoa lá trong rừng của nước nhà hầu bào chế một thức ăn như thuốc viên bổ multivitamines mà hồi đó chưa có sản xuất được, mục đích là giúp con người khỏi khổ sở vật chất vì lo miếng ăn hằng ngày, chớ quần áo và chỗ ở có tạm bợ dễ dàng hơn là thức ăn rất cần thiết cho sự sống, nhưng không chủ trương theo pháp môn nhịn đói (vô úy) thời đó vì làm mất sức khỏe người tu và không được sự tinh tấn sáng suốt của tâm linh. Vào ngày 26 tháng Chạp, giữa đêm khuya lén mở cửa thoát ra khỏi nhà để đi lên núi Điện Bà Tây Ninh vì không dám cho gia đình hay sợ bị cản trở.
Trước đó, cùng với Bào huynh Đạt Minh tập thủ cơ, nhưng vì thiếu bộ phận cầu cơ và chưa có kinh nghiệm nên không có kết quả mỹ mãn. Tuy nhiên có hai đấng thiêng liêng nhập xác cho anh Đạt Minh để xuất khẩu dạy đạo lý, có khi dùng Pháp văn cho dễ hiểu hơn Hán văn. Ngài dạy cách kiểm điểm từ tư tưởng, lời nói và hành vi hằng ngày và ghi vào sổ nhật ký, giống như làm tờ vô ngã kiểm của CQPTGL vậy. Và hằng tuần Ngài cho điểm sau khi kiểm điểm. Sự trốn đi núi, tôi cũng dấu không cho anh Đạt Minh hay. Trước khi đi, tôi vào làm lễ trước Thiên Bàn và được chơn linh của một đấng thiêng liêng nhập vào, đốt một bó nhang và chạy ra cửa, băng qua các vườn tược nhà cửa từ Bà Chiểu lên Chí Hòa, Hòa Hưng giữa đêm khuya chó sủa ran, tay họa phù chúng liền im bặt. Việc đăng sơn, cũng đã dự trù trước, mỗi đêm tập lên Thánh thất Bình Hòa chạy xung quanh bốn gốc, tập cho nhẹ nhàng để băng rừng leo núi khi cần. Điều lạ lùng là trong túi không có dính một đồng xu nào mà nói làm sao xe đò chở đi không lấy tiền lại còn dấu không cho ai kiếm thấy mình nữa. Lên đến chơn núi, lại bỏ guốc đi chơn không lên tới chùa Trung, vào chùa giảng đạo thao thao bất tuyệt (thiêng liêng xuất khẩu lúc đó) được cho ăn cơm no, sau đó nhờ người chỉ đường lên đảnh núi, mặc dầu mặt trời vừa lặn không còn ánh sáng, cũng một hai đòi đi liền không ai cản được. Nhảy phóc lên các hòn đá, trèo leo lên các cây tre lồ ồ, nhảy nhót cành này qua cành kia như con vượn, mặc cho gai cào rách áo chảy máu nhưng cũng vẫn tuông rừng leo núi cho đến khuya thì lên đến chót đỉnh, lúc đó thiện nam cũng hành hương đông và đốt lửa sáng thấy từng đoàn năm bảy người. Tôi liền vào quì lạy lễ Phật và ngồi tham thiền một lúc lâu. Bỗng trí não bừng sáng lên như sau một cơn mê man vừa tỉnh giấc. Ơn Trên dạy phải hồi gia lập tức vì đi không cho gia đình hay, cha mẹ già khóc than và anh chị chạy kiếm tứ tung, làm như vậy đắc tội và hơn nữa nhơn đạo chưa xong làm sao có thể xuất gia sớm quá được. (Việc này khi vào hành đạo tại Cơ Quan, Đức Lê Đại Tiên có nhắc lại chuyện cũ để khuyến khích việc hành đạo). Ra ngoài chùa, được chư Phật tử kể lại mấy ngày trước có hai cậu đi tìm đạo lạc vào rừng bị cọp ăn thịt, bỏ xương phơi trắng giữa rừng, mà dợn tóc gáy hú hồn cho mình. Thầm cảm ơn Thầy Mẹ đã hộ trì cho mình được thoát nạn. Sáng tinh sương, đổ dốc núi theo đường mòn, chớ không dám đi băng rừng trèo núi như khi lên vì đã tỉnh táo rồi. Thế mà, gần đến chân núi lại bị lạc vào giữa rừng rậm đến một ngã ba không biết phải ra lối nào, la rát cổ họng mà không thấy một tiếng đáp lại. Tâm thần bắt đầu xao xuyến ám ảnh sợ bị cọp ăn phơi xương như đã nghe thuật lại. May sao, còn chút sáng suốt chạy theo dòng suối, định bụng dầu thế nào cũng có lối ra sông. Đi một đổi lâu thì thấy một cánh đồng lúa đã gặt lố dạng. Mừng quá chạy riết đến một chòi canh của một ông già giữ vườn dưa hấu trồng để bán Tết. Nghe mình thuật câu chuyện, ông ấy dọn cơm nước cho ăn no nê. Hỏi đường về ra bến xe đò, thì được biết mình đang ở phía sau núi, bên kia của bến xe đi xa lắm, sợ lạc nữa, mới khẩn khoản nhờ ông cho người đưa dùm. Ông tặng cho hai trái dưa hấu to để mang về ăn Tết. Ngộ là không có tiền mà vào tiệm ăn hủ tíu nằm dưới chân núi, chủ tiệm hoan hỉ không lấy một xu vì lúc đó có phong trào thương mến các học sinh hiền hậu, nhất là có chí lên núi học đạo. Vì có phong trào hát tuồng Phật Tổ xuất gia của gánh hát cải lương Tân Thinh nên ảnh hưởng rất lan tràn sâu đậm trong các từng lớp dân gian.
Về gần tới nhà ở sâu trong xóm, nên đi bộ hai tay ôm hai trái dưa lửng thửng về nhà trong lúc chiều trời sẫm tối, trong nhà thấy bóng chạy túa ra, người chị hai ôm chầm em vào lòng mà khóc lên nức nở, mừng mừng tủi tủi vì tưởng đâu em mình đã chết theo lời đồn đãi nên hiện hình về. Cả xóm tựu lại mừng rỡ, vì ai ai cũng thương mến mình. Sau đó, gia đình ngăn cản đến Thánh thất hành đạo mà bắt ở nhà lo học hành và tu ở nhà cũng được, sau thành đạt sẽ tính tới.
IV. GIA NHẬP CƠ QUAN PHỔ THÔNG GIÁO LÝ CAO ĐÀI
Nhờ Bào huynh Đạt Minh giới thiệu đi hầu đàn cơ tại nhà đạo trưởng Huỳnh Chơn ở Thiên Lý Đàn (Hòa Hưng), lẽ ra nếu không có vụ trốn lên núi, thì đã được anh rủ đi hầu đàn ở Minh Tân Khánh Hội trước, mà hiểu đạo rộng hơn trước khi vào Cơ Quan. Sau đó một vài đàn cơ, mình thấy đường lối chánh chơn của anh chị em đạo tâm, nên nhận chức thủ bổn cho Cơ Quan, vì mình đang làm giám đốc một công ty lớn ở Đô Thành Sài Gòn và nhơn viên phòng Thương mại kỹ nghệ nên dĩ nhiên được tin cậy. Sau đó có Đức Lê Đại Tiên nhắc vụ mình đi núi tìm đạo khi trước và khuyên mình hãy hợp tác hành đạo vì đúng với tâm nguyện và cũng là Thánh ý cơ duyên của hiền đệ. Đức Giáo Tông Lý Thái Bạch có cho một bài thi tại Thánh tịnh Ngọc Minh Đài năm 1965.
“Có kẻ buôn hài đến chợ trưa,
Kề bên bến giác cậy ông đưa;
Ông đưa, ông dặn này ghi nhớ,
Hài của người buôn lắm kẻ vừa.”
Ngài khuyên hãy hợp tác hành đạo với Cơ Quan mặc dầu Ơn Trên chưa chỉ định nhưng cũng là Thánh Ý và dặn hãy cẩn thận đừng phí ngày giờ và tiền bạc không đúng lúc và không nhằm chỗ (có lẽ Ngài muốn nhắc câu "hài của người buôn lắm kẻ vừa") vì bản tánh cởi mở rộng rãi vui vẻ hay làm vừa lòng mọi người.
Đến đêm giao thừa, 29 tháng Chạp năm Ất Tỵ (20-1-1966) tại Thiên Lý Đàn, Đức Chí Tôn Đại Từ Phụ có ban cho Thánh danh:
“LÊ VĂN BÁ thấy con chí nguyện,
Hiệp chung lo điều kiện Cơ Quan;
Dốc đem, đem tấm can tràng,
Lập công bồi đức cho ngang bạn hiền.
Nay Thầy ban danh Tiên cho trẻ,
Để con hiền mát mẻ tâm trung;
Tên là CHÍ TÍN lập công,
Bước mau để kịp đại đồng thế gian.”
Ngày Cơ Quan PTGL ra mắt đại hội tại Nam Thành Thánh Thất, được nhơn sanh bầu vào Ban chấp hành đầu tiên, ngày rằm tháng hai năm Bính Ngọ (1966) với chức vụ Nội Chánh Vụ trưởng, cùng với Đạo trưởng Huệ Lương Trần văn Quế lãnh đạo với chức vụ Tổng Lý Minh Đạo và Bào Huynh Đạt Minh làm Ngoại Giao Vụ.
Dưới đây liên tiếp nhận lãnh các chức vụ trong Cơ Quan.
Nội Chánh Vụ Trưởng nhiệm kỳ đầu tiên năm Ất Tỵ 1966 và nhiệm kỳ hai năm kế 1967-1968.
Phó Tổng Thơ Ký nhiệm kỳ hai năm Kỷ Dậu và Canh Tuất (1969-1970) kiêm Tổng Thơ Ký và Tham Lý Minh Đạo cuối năm 1969 vì Đạo trưởng Minh Lý ra khỏi Cơ Quan.
Tổng thơ ký chánh thức năm Tân Hợi 1971.
Quyền Tham Lý Minh Đạo nhiệm kỳ 3 năm 1972-1973-1974.
Tham Lý Minh Đạo chánh thức nhiệm kỳ 3 năm 1975-1976-1977.
Chủ tịch Hội Đồng Nghiên cứu Giaó lý sau khi Đạo trưởng Kiến Minh ra đi vào năm 1978, một tổ chức song hành với CQPTGL.
Sau hết là Phó Tổng Lý Minh Đạo kể từ 18-2 Ất Sửu (07-4-1985) và lưu nhiệm một năm nữa của năm Bính Dần 1986 cho đúng chu kỳ 60 năm đạo Cao Đài ra mắt nhơn sanh tại Việt Nam. Phục vụ CQPTGL được hơn 21 năm, quá giai đoạn 20 năm đầu của bộ máy Đại Đạo sau cùng, lúc nào cũng dốc lòng đem hết chí thành tâm đạo khả năng công sức và tài nguyên để làm tròn trách vụ của mình nhận lãnh với thiêng liêng và nhơn sanh giao phó, không thoái chí ngã lòng, chồn chơn lùi bước trước những khảo đảo từ nội tâm đến ngoại cảnh đưa đến, đúng theo lời dạy của Đức Chí Tôn lúc ban Tiên danh Chí Tín:
"Dốc đem đem tấm can tràng,
Lập công bồi đức cho ngang bạn hiền.” [202]
Để đền ơn Thầy và chư Phật Tiên có công dìu dắt dạy dỗ, lúc nào cũng cố gắng dồi trau tính nết, tâm hạnh để xứng đáng là học trò Tiên, môn đồ của Thầy, cốt lo chánh kỷ để hóa nhơn với chí hướng đã chọn khi bước vào con đường tu học là tiên lo tự giác, hậu phải giác tha để đền ơn đáp nghĩa với Thầy và chư Phật Tiên đã có công chắt chiu dạy dỗ từ thuở còn thơ. Trong lúc hành sự nhiệm vụ Tổng thơ ký được Đức Giáo Tông nâng đỡ và âu yếm gọi là Tổng thư ký của Bần Đạo. Và khi lãnh nhiệm vụ mới là Tham Lý Minh Đạo, được Đức Giáo Tông khảo hạch trước bửu điện và toàn thể nhơn viên Cơ Quan và khấu trình dưới sự chứng kiến theo dõi của Đạo trưởng Phụ tá Bảo pháp Chơn Tâm và toàn thể nhơn viên Cơ Quan dự đàn cơ (đàn 15-2 Nhâm Tý 29-3-1972):
                         THI
“Năm trước, muốn xong bản phúc trình,
Phải nhiều tâm thức lặng thinh thinh,
Móc moi tâm não ra mà viết,
Viết tới xóa lui vẫn bực mình.
HỰU
Nay vừa xuất khẩu đã thành văn,
Mạch lạc khấu trình có lớp lang,
Bất tuyệt thao thao đầu chí cuối,
Tỏ ra tiến bộ thật vô ngần.”
Thật chúng ta phải cảm đội thâm sâu sự chắt chiu dạy dỗ từng bước, từng chi tiết hành đạo như những người anh người cha ruột thế gian với đầy đủ tình thương yêu đậm đà thấm thiết, lắm lúc quá nuông chìu chúng ta, thể hiện đức độ hạ mình của Tiên Phật trong cơ tận độ kỳ ba mà tất cả người Thiên ân sứ mạng cần phải noi theo. Ngoài ra, Ngài còn không quên nhắc nhở gởi gắm mình về công phu luyện kỷ cho Đức Đông Phương Lão Tổ (04-02-1972).
“Thấy trò em út nghĩ mà thương,
Trỗi bước từ lâu vạn dặm trường;
Sức mọn, nhưng lòng không quá mọn,
Đỡ nâng nhờ có Lão Đông Phương.”
Thật là phấn khởi vô cùng, mình thấy đã được ân huệ Thiêng Liêng dắt dìu từng bước công quả, công trình và công phu cho đầy đủ mới có thể phản bổn hoàn nguyên phục hồi cựu vị được và chính hai Đấng lãnh đạo tối cao vô vi của lưỡng đài Cửu Trùng và Hiệp Thiên trực tiếp huấn luyện cho mình được nên người môn đệ xứng đáng của các Ngài và của Thầy nữa. Nhớ có lần Thầy nhắc nhở sứ mạng của mình qua bài thi:
"Chí Tín, chí tâm chẳng đổi dời,
Nghiệp đời chừng đó dễ buông trôi;
Gay chèo Bát Nhã trên dòng nước,
Sứ mạng Tam Kỳ nhớ trẻ ôi!" [203]
Và ở một đoạn Thầy nhắc nhở thêm:
"Tâm con vốn Bửu Tòa Thầy ngự,
Hãy giúp người gìn giữ Thiên cơ;
Hoằng khai Đại Đạo Tam Kỳ,
Công Bình, Bác ái, Từ bi đứng đầu. (…)


Đã chấp nhận con đò cứu khổ,
Lướt dòng sông quốc độ kỳ ba;
Tâm con con sẵn bửu tòa,
Ngoài tâm chẳng có chi là đâu con." [204]
Phải chăng đã đến lúc phải đem "đạo mầu công dụng mọi nơi" để "cho người thông cảm cùng người; dẹp tan sắc phái phục hồi tình thương" cho đúng tiêu đích của Cơ Quan. Và ai, lúc nào, nơi đâu? Cho nên các hàng lãnh đạo Cơ Quan được lịnh xuất gia, trước hết Đạo trưởng Quyền Tổng Lý Minh Đạo Thiện Bảo và Đạo tỷ Chủ Tịch Nữ Chung Hòa Ngọc Kiều và liền đó 5 bậc đàn anh của Cơ Quan: Chơn Tâm, Chí Tín, Đạt Minh, Chí Hùng và Chí Thuần cũng được lịnh xuất gia vào ngày 15-5 Ất Sửu (1985). Trên dòng đạo pháp cũng đã được Ơn Trên truyền giao giáo pháp đủ đầy khả dĩ thay Tôn Sư mà truyền lại đàn em. Các vị tiếp nối như đạo huynh Huệ Chơn vừa được nâng đỡ lên hàng Phụ tá Bảo pháp, Chí Thành và Thiên Vương Tinh cũng được ân huệ cho vào khóa tu Bá nhựt trúc cơ để cho đủ thần lực mà hành đạo.
Nếu chỉ dạy cho Đạo tỷ Ngọc Kiều, sau khi giải thích ý nghĩa của hai chữ XUẤT GIA của các hàng Thiên ân Cơ Quan, thì không phải là thật tế vì bịnh và hoàn cảnh của đạo tỷ làm sao thực hành lời dạy cao xa dưới đây:
“Sống đây vũ trụ là nhà,
Nghĩa là non nước, tình là vạn sanh." [205]
Cũng trên đường hướng đó, Đức Ngô Đại Tiên đã dạy Chí Tín một đàn cơ tại Minh Đức Tu Viện, sau khóa tu cho 3 vị Chí Thành, Chí Mỹ, Thanh Chơn ngày 2 tháng 10 Nhâm Tuất (16-11-1982):
"Chí Tín, hiền đệ có tâm hành đạo muốn kế tục đạo nghiệp gìn giữ Tổ Đình (tức là Tổ Đình của Chiếu Minh Cần Thơ mà Chí Tín là môn sanh đã thọ chơn truyền) và theo ý của nữ đồ MINH DĨ (là người chị cao niên và uy tín nhất của Phái Chiếu Minh hiện nay). Đó là điều Tiên Huynh rất lưu ý, nhưng đúng theo sự thật thì Tiên Huynh và hiền đệ có cùng sứ mạng Tam Kỳ Phổ Độ mà Thượng Đế đã phó giao. Nay Tiên Huynh, do tôn ý trước Tam Giáo Tòa, hiền đệ được về Tổ Đình Cần Thơ để cùng chung lo lễ cúng, nhưng phải hoãn việc chấp cơ, hãy dùng tâm niệm vô vi, Tiên Huynh sẽ chứng lễ và ban ơn cho toàn thể chư đệ tử nam nữ. Hiền đệ còn phải được dạy thêm trong một khóa tu Đông Chí sắp đến mới đủ thần lực thanh tịnh mà kế tục đạo nghiệp của Tiên Huynh đến hết một thời gian nhất định. Hiền đệ còn mang một sứ mạng chính thức to tát hơn. Nên lưu ý việc gì đến sẽ đến. Phần Tiên Huynh khuyên hiền đệ hãy bình tâm mà thi hành mọi việc cho đúng đạo lý thiên cơ.
Trường thi buổi chót chọn nguyên nhân,
Hoằng đạo thế Thiên định cõi trần,
Không chậu không lồng là giải thoát,
Còn danh, còn tướng ấy còn phân.
Đạo tâm ví thể Trời che chở,
Tục tánh dường như đất cắt phần,
Giải thoát chác chi dòng đối đãi,
Sạch lòng mới xứng phận Thiên ân.”
Và trong một đàn cơ riêng tại Minh Đức Tu Viện nhơn ngày kỷ niệm khai trương 25-01-1985 (Ất Sửu), Chí Tín và hiền tỷ Bạch Tuyết cầu Ơn Trên dẫn đường mở rộng lối hành đạo cho Cơ Quan theo dự tính, nhưng Ơn Trên lại không chỉ rõ hay chấp nhận đường lối đó, lại chỉ vỏn vẹn cho có một bài thi đố rồi thăng, nên chúng tôi không dám tái cầu ai nữa.
“Chắt chiu từ thuở mới nên hiền,
Gởi gắm chờ người biết hạnh duyên;
Tôn chỉ nêu cao đường tận độ,
Dư đồ vạch rõ lối qui nguyên.
Tùy tâm nguyện sẽ khơi nguồn thánh,
Do chí thành mới đạt ý Thiên,
Muốn tới Cao Đài đi mới tới,
Có chi mà phải hỏi thần tiên." (Đức Vô Vi Tiên Trưởng)
Trong một đàn cơ, rằm tháng 7 Ất Sửu (30-8-1985), Đức Bảo Pháp Huỳnh Chơn cho một bài thi để trấn an chư Thiên ân:
“Vật cùng tắc biến, biến liền thông,
Trí giả tri cơ lối đại đồng;
Pháp đạo vận hành từ thượng hạ,
Quyền Thầy chuyển hóa khắp Tây Đông.
Thiên ân hiểu rộng không nao chí,
Hướng đạo nhìn xa chẳng não lòng,
Dụng đó vẫy vùng không dấu dạng,
Tùy thời ẩn hiện tợ thần long.”
Và Đức Lý Giáo Tông tiếp theo cho một bài thi đầy đáp số:
“Tiên Ông trao sẵn bộ Thiên thơ,
Đã mấy mươi năm luống đợi chờ;
Sứ mạng thiên ân kỳ tận độ,
Xây nền Thánh đức kịp thời cơ.” [206]
V. PHẦN THỌ TRUYỀN ĐẠO PHÁP
Thọ pháp Sơ thiền cửu cửu chung với chư huynh tỷ đệ muội ở Cơ Quan, khóa đầu tiên năm Bính Ngũ (12-6-1966) tại Thiên Lý Đàn với đạo trưởng Huỳnh Chơn Bảo Pháp Chơn Quân theo Thánh lịnh của Đức Tôn Sư Đông Phương Lão Tổ. Nhưng vốn quyết tầm đạo cho thấu đáo chơn truyền của Đại Đạo Chiếu Minh, sau khi học Đại Thừa Chơn Giáo của Phái Chiếu Minh. Nhờ đạo trưởng Huệ Lương quen thân với các anh tu của phái Chiếu Minh của các đàn Long An (Anh Lộc), Long Hoa (anh Truyện) và đàn Chợ Lớn (anh Hai Quảng), tôi lần mò làm quen được thân thiết với anh Truyện vốn cùng nghề XNC trong phòng thương mãi và kỹ nghệ Saigon, nên thường được mời ăn cơm chay, tôi ngỏ ý xin keo để trước được hầu đàn của Chiếu Minh, sau thọ truyền đạo pháp. Tại đàn Long Hoa năm 1967-1968, tôi xin keo không được, các anh khuyên tiếp tục làm âm chất công quả cho đầy đủ đi, vì anh còn sứ mạng nơi cơ phổ độ, chừng đến thời giờ Thầy kêu mấy hồi. Mãi hai năm sau, tôi đến đàn anh Lộc (Long ẩn) do sự mời mọc của anh, chớ 2 năm trước anh từ chối cho rằng mình theo chưa nổi đâu. Vào xin keo cũng không được nữa (cũng do đó mà đàn cơ ở Cơ Quan Đức Ngô Đại Tiên đã cho biết lý do không nhận mình làm đệ tử). Nhưng sau thời gian quan sát mình, và biết mình thật tâm tu hành và đã có quá trình hành đạo nhờ dắt các phái đoàn Tòa Thánh, Hội Thánh đến làm lễ tại Thánh Đức Tổ Đình Cần Thơ trước đó, nên anh Lộc và anh Tiềng, vốn là cặp đồng tử của đàn, cho đặc ân quì hầu Thầy ở cuối gốc đàn, hy vọng Thầy thương tình mà kêu dạy (đây là biệt lệ của phái Chiếu Minh đó). Vì cảm trước tấm lòng chí thành cầu Đạo, nên Thầy ban ơn cho bài thi ngày 15-3 Canh Tuất (18-6-1970):
“Tòng BÁ quản gì với tuyết sương,
Nguyên căn tỉnh ngộ tránh tang thương;
Theo Thầy học đạo tìm chơn lý,
Khỏi uổng kiếp này ở cõi dương.”
Một tháng sau, hầu đàn xin keo để được Thầy ban ơn cho thọ pháp hay không thì keo cho. Theo Chiếu Minh, 100 ngày đầu phải công phu cho đầy đủ, muốn chứng minh mình được đầy đủ chưa, phải xin keo Thầy cho biết, thì ra mình xin keo Thầy không chứng minh. Điều dễ hiểu mình đang có phận sự vận động các chi phái thống nhứt nghĩa là mình mót bòn thêm công quả để xong xuôi mình qua Chiếu Minh tu luôn cho trọn phần đầy đủ quả công, trọn nghĩa thủy chung với Cơ Quan. Nhưng xin keo, Thầy không chứng minh điều này dễ hiểu vì mình tu còn thiếu sót, không đủ tứ thời hằng ngày, vì phải đi hành đạo đây đó, và các anh chị trong Chiếu Minh cũng thường quở trách hoài. Được Thầy ban ân, bài thi được truyền bá đến Tổ Đình Cần Thơ mau lẹ, và mình bị các anh chị cười, nhắc mãi bài Thầy chỉ mình để làm bài học chung cho những ai còn thiếu sót phần công phu như mình:
“Bá nhất độ (là 100 ngày) in khuôn in lối,
Một mình con hai mối sao xong;
Ai ra trả nợ đại đồng,
Ai về cố thủ đơn phòng sớm trưa.
Đã bao lúc Thầy vừa ý trẻ,
Khuyên con đừng xem rẻ qui điều;
Thương trò Thầy mới dắt dìu,
Thị phi càng lắm, càng nhiều lạc đưa.
Gương Lục Tổ ngày xưa hiển hiện,
Tay cầm chày, miệng niệm Di Đà;
Mặc người Thần Tú cao xa,
Một câu lục tự thoát qua bể trần.
Hỡi nam nữ, mẫn cần lời dạy,
Luận lý nhiều quấy phải chê bai;
Ngày đêm tưởng niệm Cao Đài,
Bớt nghe bớt thấy, bớt hoài mới nên.
Muốn thành Đạo phải bền chí cả,
Muốn đăng tiên tâm hỏa diệt tiêu;
Đơn phòng đừng để quạnh hiu,
Khách trần lần dứt, sớm chiều tầm nguyên.”
(Đàn Long Ẩn, 07-10-1972)
Sau đó, rán công phu thêm cho đầy đủ và xin keo thì Thầy chứng bá nhật liền và chánh thức được lên nhất bộ. Theo nguyên tắc, nếu tu đúng 3 năm 8 tháng, liệu xét mình đầy đủ thì xin keo để Thầy chứng minh lên Nhị Bộ, nhưng không dám xin keo, để chừng nào Thầy ban ơn thì Thầy cho như có vài trường hợp của các huynh trưởng được Thầy ban ơn.
Mãi đến hôm đàn kỷ niệm ngày Thầy thoát xác 13-3 Ất Mão (24-4-1975) thay vì đi về làm lễ lớn tại Tổ Đình Cần Thơ như thường lệ, nhưng vì tình hình lúc này găng quá, nên làm lễ tại Saigon. Được Thầy ban ơn như sau:
“Hữu chí thiền ngộ đặng pháp minh,
Căn cơ hoài bão hướng Kim Đình;
Tứ ân Nhị Bộ cho tròn vẹn,
Mối Đạo Trời Cha gắng giữ gìn.”
Và Thầy dạy tập chấp bút để thay thế anh Tiềng già yếu hay bịnh hoạn.
Ở CQPTGL được Đức Tôn Sư Đông Phương Lão Tổ truyền trao nhiều pháp môn như: Pháp Ngoại Công phu thể dục gọi là Thập Nhị cẩm Đoạn, trong đó có trùng nhiều tư thế công phu của Chiếu Minh, các khẩu quyết Sơ cơ, Nhị cơ, Tam muội chánh định. Pháp môn luyện âm dương ngũ hành để diệt ngũ âm trừ ngũ tặc, luyện tan thất tình lục dục cho tâm được thanh tịnh mà bước vào trúc cơ có hiệu năng hơn. Đặc biệt trong thời kỳ hạ nguơn mạt kiếp này hành giả gặp nhiều khó khăn.
Được Đức Lão Tổ và sư phụ Ngô Đại Tiên dạy truyền pháp Chiếu Minh cho nên xin ở Cơ Quan nếu có đủ điều kiện trường chay tuyệt dục và quyết tâm cầu tu giải thoát đốt cháy hết que trầm (thay cho việc đốt hồng thệ trong Chiếu Minh) lập đại nguyện trước Tam Giáo Tòa, nếu khinh thường đạo pháp, khi trọng tội cũng bị tam đồ bất năng thoát tục không khác gì lời thệ ở Chiếu Minh, mục đích để dung hợp pháp môn gọi là tân pháp Cao Đài (pháp môn bất nhị mới thiệt là con đò trời).
Được thu nhận vào khóa Trúc cơ đầu tiên của Cơ Quan năm Mậu Ngọ (1978), sau đó được tiếp tục thọ pháp thập ngoạt hoài thai (300 ngày) và điều ngộ nghĩnh thay làm cho mình vững lòng tin thêm duyên lành chính Sư phụ mình là Đức Ngô Đại Tiên được lịnh Tam Giáo Tòa truyền chánh pháp tu luyện nội đơn trực tiếp với Đạo trưởng Bạch Lương Ngọc trụ trì Vĩnh Nguyên Tự Cần Giuộc tại Minh Đức Tu Viện vào ngày mùng 06-7 Nhâm Tuất (24-8-1982).
Với những lời tự thuật này, kính mong chư hiền huynh hiền tỷ và chư đệ muội nghiên cứu suy nghiệm để làm bài học cho bản thân hầu tiến trổi hơn tệ đệ đã mất nhiều thời gian hơn trước đó. Cầu xin Đức Tôn Sư và Sư phụ chứng lòng thành tri ân sâu xa của đệ tử và xin nguyện để hết lòng chơn thành truyền trao đạo pháp cho những ai có căn lành và được nhị vị chứng giám dạy bảo để không mang trọng tội khinh truyền đạo pháp


[202] Thiên Lý Đàn, 29-12 Ất Tỵ, 20-01-1966.
[203] CQPTGLĐĐ, 15-01 Nhâm Tý, 29-02-1972.
[204] CQPTGLĐĐ, 15-10 Quí Sửu, 09-11-1973.
[205] CQPTGLĐĐ, 06-3 Giáp Tý, 06-4-1984.
[206] CQPTGLĐĐ, 15-7 Ất Sửu, 30-8-1985.


http://www.caodaism.net/thuvien/viewstory.php?sid=1356&warning=6


Nguồn: CHÍ TÍN (LÊ VĂN BÁ)
Share:

Lưu trữ Blog

Được tạo bởi Blogger.

Tìm kiếm Blog này

Blog Archive

chuyển đổi