- Text Size +

PHẢN TỈNH NỘI CẦU

Đối với hầu hết con người, cuộc sống có thể là một chu kỳ đang diễn ra của những thách thức, thiên tai, mất mát, đau đớn, thành công, thành tựu, lợi ích, hạnh phúc và thất bại.Và trong đời người, ai cũng ít hoặc nhiều lần thức tỉnh sau những sai lầm hoặc những cuộc phiêu lưu vào giấc mơ phù du không tưởng. Có những cơn đại mộng cuộc đời chỉ được tỉnh thức vào buổi xế chiều hay lúc hoàng hôn. Sự thức tỉnh nầy đều thuộc phạm vi cuộc sống thế tục, nó như là những lần đứng dậy sau những lần vấp ngã. Nó không giống như sự phản tỉnh nội cầu mà chỉ có người dấn thân mình vào cửa Đạo để tìm sự giải thoát khỏi sự trói buộc của nghiệp chướng trần tình, thuộc phạm vi tâm linh.

Tâm linh cũng có thể được diễn giải như là quá trình đánh thức và tiến lên phía trên bản ngã. Nó có thể được hiểu là quá trình đánh thức một ý thức rộng hơn, không giới hạn bởi tư duy, ý tưởng và niềm tin, và như đang sống trong hiện tại.

Tâm linh cũng có thể giải thoát tâm trí khỏi sợ hãi, lo lắng và suy nghĩ không ngừng, và trải qua an lạc và hạnh phúc bên trong.

Chúng ta cũng có thể xem tâm linh như là môi trường phản tỉnh nội cầu để biết bản thể chân thực của mình và khám phá bản chất thực sự của ý thức. Có thể nói rằng, sau khi thức tỉnh tâm linh, ta sẽ vượt qua ảo ảnh của thế giới, và những điều kiện vật chất sẽ không còn quan trọng nữa, có một cách gọi khác là: Phản tỉnh nội cầu.

. ĐỊNH NGHĨA

Sau khi tra cứu các Từ Điển Hán Việt, từ ngữ Phản Tỉnh Nội Cầu được chọn ra những định nghĩa tương ứng như sau:

Phản 返: Quay về, trở lại. Nghĩ, suy xét, như: tự phản 自反 (tự xét lại mình).

Tỉnh 醒: Thức dậy, đánh thức một giấc mơ; phục hồi ý thức sau khi gây mê hoặc phục hồi trạng thái bình thường sau khi hôn mê. Phiếm chỉ đầu óc tỉnh táo sau lúc bị mê mờ (do bị thôi miên).

Phản tỉnh 返醒: Tự kiểm điểm lấy mình, xem xét lời nói, hành vi đã làm trong quá khứ đúng hay sai, tốt hay xấu. Tương tự: kiểm thảo 檢討 (quay về mình mà tự xét). Tỉnh ra, nhận ra lẽ phải và thoát khỏi tình trạng mê muội sai lầm. Gợi ra, làm trỗi dậy cái vốn tiềm tàng trong con người.

Cầu 求: Tìm, tìm tòi, như sưu cầu (tìm tòi). Chiêu dẫn, như: Đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu 同聲相應, 同氣相求 (Cùng tiến thì ứng hợp với nhau, cùng khí chất thì dẫn đến nhau).
Nội cầu 内求: Hướng vào trong mà tìm kiếm.

ỨNG DỤNG THÀNH NGỮ PHẢN TỈNH NỘI CẦU TRONG TU CHƠN

1. PHẢN TỈNH

Như định nghĩa trên, phản tỉnh là quay về tự xét lấy mình xem tam nghiệp có được thanh tịnh hay không, để tìm cách thoát khỏi tình trạng mê lầm, đồng thời đánh thức chơn tâm vốn tiềm tàng trong sâu thẳm.

Công phu phản tỉnh cũng cần sự quan sát hoạt động của tâm trí của ta, cảm giác của trái tim và cảm giác của cơ thể ta. Hô hấp và tập trung tư tưởng cũng là những thành phần của sự tự quan sát, vì chúng có thể giúp hướng sự chú ý vào bên trong và làm cho tâm thần ổn định. Khi chúng ta chú ý đến hơi thở, hít vào và thở ra chậm rãi, trạng thái tinh thần của chúng ta trở nên dễ tiếp nhận hơn. Hơi thở là một thế lực trung lập không có chương trình nghị sự của riêng nó. Khi hơi thở sâu hơn, chúng ta cảm thấy có cơ sở hơn và trái tim mở ra để có thể dễ tiếp nhận hơn với bản thân và người khác. Điều quan trọng là nhẹ nhàng trở lại với hơi thở khi chúng ta nhận thấy rằng chúng ta đã chú ý đến một số suy nghĩ hoặc cảm giác.

Sự phản tỉnh của giống như tâm linh vượt ra ngoài cơ thể và cái tôi, vượt ra ngoài trái đất, vượt ra ngoài Hệ mặt trời và vượt ra khỏi dải Ngân hà của chúng ta. Đó là một trạng thái mà trong đó Giác Thức, thực thể của ta, không bị ràng buộc bởi tính cách của bản ngã.

Vậy phản tỉnh là làm cho giác thức yên lặng, không động, không rung chuyển, tức là khi cảm giác được đối tượng và nhận thức (cái biết của căn) tên đối tượng liền xa lìa đối tượng, liền đó là ta có chơn thức, chơn như, cũng gọi là chánh niệm. Gọi chánh niệm vì thấy và nhận thức chỉ có đối tượng chơn thức, chơn như; ngoài đối tượng chơn thức, chơn như không còn gì nữa (tha tính không). Nói rõ hơn là cảm giác đối tượng, nhận thức đối tượng tại đó và lúc đó mà thôi (vô thời không) là ta tĩnh thức vậy.

Chánh niệm là nhớ đúng nghĩ đúng là giai đoạn thứ bảy trong Bát Thánh đạo. Nhìn vào hay quán vào thân tâm để luôn tỉnh thức. Chánh niệm có nghĩa là lìa mọi phân biệt mà niệm thực tính của chư pháp. Theo Bát Chánh Đạo, chánh niệm là “Nhất Tâm”.

Khi chúng ta nhìn quanh bạn, đọc báo, hoặc xem tin tức trên TV, chúng ta thấy gì? Chúng ta thấy người của nhiều quốc gia, tôn giáo và các nhóm, một số sống trong sự hòa hợp với người khác và một số không hài hòa. Một số ghét hoặc đánh nhau, và những người khác cố gắng sống trong hòa bình. Chúng ta thấy nhiều người có vấn đề, sống với lo lắng hoặc căng thẳng hay những người có khát vọng, hy vọng và tham vọng. Mọi người đều nghĩ và nhìn thế giới thông qua hành trình của tâm trí. Mọi người đều sống trong thế giới nhỏ bé của mình và nhìn thế giới thông qua kính mắt màu. Chúng ta cố gắng thoát ra khỏi thế giới nhỏ bé này để mở rộng ý thức của mình để vượt ra ngoài nó. Chúng ta không cần phải đi đến một nơi xa xôi hẻo lánh nào mà cũng có thể có một cái nhìn thoáng về sự mở rộng bên trong này, nếu ta liên tục thực hành thiền định hay nội cầu.

2. NỘI CẦU
Đức Phật thường giảng: Cầu Pháp ngoài tâm, không nơi nào có cả (Tâm ngoại cầu pháp, vô hữu thị xứ 心外求法,無有是處). Và câu: Phật ở trong nhà, không rời khỏi người (Phật thị môn trung, bất xả nhất nhơn 佛氏門中,不捨一人). 
Trong Pháp Bảo Đàn Kinh, phẩm Cơ Duyên có ghi chuyện Tăng Pháp Hải, người ở Khúc Giang tỉnh Thiều Châu đến tham vấn Tổ Sư: “Thế nào là tức Tâm tức Phật (即心即佛)? Xin Hoà Thượng từ bi chỉ điểm”. Ngài Lục Tổ khai thị: Niệm trước chẳng sanh tức Tâm, niệm sau chẳng diệt tức Phật; lập tất cả tướng tức Tâm, lìa tất cả tướng tức Phật (前念不生即心,後念不滅即佛;成一切相即心,離一切相即佛). Nếu Ta nói cho đủ thì trọn kiếp cũng chẳng hết, hãy nghe kệ đây:
Tức tâm danh Huệ 即心名慧,
Tức Phật nãi Định 即佛乃定.
Ðịnh Huệ đẳng trì 定慧等持,
Ý trung thanh tịnh 意中清淨.
Ngộ thử pháp môn 悟此法門,
Do nhữ tập tánh 由汝習性.
Dụng bổn vô sanh 用本無生,
Song tu thị chánh 雙修是正. .
(Tức tâm là Huệ, tức Phật là Định. Ðịnh Huệ song song (đẳng trì), nơi ý thanh tịnh. Ngộ pháp môn này, do tập khí ngươi. Dụng vốn vô sanh, song tu (Ðịnh Huệ) là chánh.

Hai mệnh đề mà ngài Lục Tổ nói: Niệm trước chẳng sanh tức Tâm, niệm sau chẳng diệt tức Phật, thật ra chỉ là một. Vì nếu đã không có niệm trước thì làm gì có niệm sau? Còn câu: thành các tướng tức Tâm có nghĩa là do cái tâm sanh diệt mà lập nên các tướng, các tên của vật nầy việc nọ, chớ tâm không dính dáng đến các tướng thì tâm đó mới là Phật.

Cho nên, nếu có được sự nội cầu, cầu từ trong tâm, thì chúng ta mới tự mình thật sự phát tâm, tự nhiên được các Đấng Thiêng Liêng cảm ứng. Các Đấng Thiêng Liêng như là những người thiện tri thức, mà chúng ta thì muốn tìm những người thiện tri thức. đây không phải là một cách tốt để nội cầu sao? Vấn đề là phải biết tìm cách vào bên trong, hướng nội tìm kiếm, bằng cách quên bỏ việc chạy theo cái sở học bên ngoài làm cho tâm trí ta chia manh xẻ mún đi, trở về cầu học Thiên đạo vô vi đang vận hành trong cái tiểu-thiên-địa nơi mình.

Sách Luận Ngữ nói: Được học hành và thường ôn tập chẳng thích thú ư?(Học nhi thời tập chi, bất diệc duyệt hồ? 學而時習之, 不亦悅乎). Thường xuyên ôn tập đạo học tức đã có lòng vui thú với việc học; gần gũi với Thánh ngôn Thánh giáo chẳng khác chi gần gũi với các bậc Thiện tri thức, với lời Tiên tiếng Phật sẽ làm cảm động đến chư Phật chư Tiên, các Ngài sẽ đến trợ lực cho ta theo nguyên lý đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu. Đó cũng là cách đặt tâm mình vào chánh niệm để đạt tới vô niệm. Chư Phật Tiên đều có đại nguyện cứu độ chúng sanh thoát khỏi mê đồ với điều kiện là chúng ta phải tìm đến các Ngài qua đường tâm linh, vì Phật và Ma, Thánh và Phàm chỉ cách nhau bởi một bức màn rất mỏng trong tâm: Giác là Phật, Mê là Ma; làm sáng cái đức sáng (minh minh đức 明明德) nơi mình là Thánh, để mờ lu cái đức sáng nơi mình là Phàm. Cho nên, Đức Khổng tử nói: Người quân tử cầu ở mình, kẻ tiểu nhân cầu ở người (Quân tử cầu chư kỷ, tiểu nhân cầu chư nhân 君子求诸己, 小人求诸人 ) cũng nhằm vào ý nghĩa đó.

Thiệu Ung (1011-1077 SCN), một triết gia, thi nhân và là nhà thiên văn nổi tiếng triều đại Bắc Tống, có bài Thiên Thính Ngâm 天聽吟 như sau:
Thiên thính tuyệt vô âm 天聽寂無音
Thương thương hà xứ tầm 蒼蒼何處尋
Phi cao diệc phi viễn 非高亦非還
Đô chỉ tại “Nhơn Tâm” 都只在人心
Trời tuyệt không có tiếng. Xanh xanh kia biết tìm nơi đâu mà thấy Trời. Chẳng phải cao, cũng chẳng phải xa. Điều chỉ ở tại “Lòng Người” đó.

BỔN PHẬN VÀ LỢI ÍCH CỦA VIỆC PHẢN TỈNH NỘI CẦU:

Đức Khổng Tử than rằng: Làm người khó! Làm người khó! (vi nhơn nan, vi nhơn nan! 為人難!為人難!). Làm người thường đã khó, đi làm bậc chơn nhơn lại càng khó hơn.
Tất nhiên, nhiều khía cạnh khó khăn không thể tránh khỏi của đời sống tu hành, như: Cá nhân cầu nguyện liên tục rất khó; sự hối cải rất khó. Chứng kiến người có đạo hạnh tốt và noi theo họ là rất khó; mãn nguyện trong bất cứ trạng thái nào chúng ta đang ở là điều khó khăn. Thương yêu người hàng xóm của ta như chính mình; thương yêu và tha thứ kẻ thù là khó khăn. Nói cách khác, thật khó để trở thành một hiền nhân, một tín hữu Cao Đài đích thực. Cũng như thế, phản tỉnh nội cầu cũng chỉ đơn giản là một sự tu tập khó khăn.

Phản tỉnh nội cầu là một bổn phận:

Người tu, ngoài các bổn phận đối với gia đình, xã hội và tổ chức tôn giáo, còn có bổn phận với chính mình là tự kiểm tra bản thân để xem chúng ta có đang ở trong chánh định, cảnh giới của “Đạo bất viễn ly” hay không. Bởi cuộc sống nội tâm là cuộc sống mà Thượng Đế luôn hiện hữu trong linh hồn của chúng ta. Nó có biểu trưng cho tình yêu, niềm vui, hòa bình, kiên nhẫn, tốt bụng, trung thành, hiền lành và tự chủ. Bổn phận đó được thể hiện qua thân thể, qua sự cảm thọ, qua hoạt động của tâm và qua cái nhìn vạn pháp thế gian:

Nơi thân phản tỉnh nội cầu bằng cách tập trung vào hơi thở.

Nơi cảm thọ phản tỉnh nội cầu bằng cách quán sát sự đến đi trong ta của tất cả mọi hình thức của cảm thọ, vui, buồn.

Nơi những hoạt động của tâm phản tỉnh nội cầu bằng cách xem coi tâm ta có chứa chấp dục vọng, sân hận, lừa dối, xao lãng, hay tập trung.

Nơi vạn pháp phản tỉnh nội cầu bằng cách quán sát bản chất vô thường của chúng sanh từ sanh, trụ, dị, diệt để tận diệt chấp trước và luyến ái.

Tại sao nói phản tỉnh nội cầu là một bổn phận? Vì nó giúp chúng ta tự kiểm soát mình hằng ngày như bổn phận của ta đối với cơ thể cần sự ăn uống vệ sinh hằng ngày vậy:

* Chúng ta tìm ra những thiếu sót và bất cứ điều gì vô lý trong hành động của mình. Chúng ta phải phân tích và xem xét bản thân hàng ngày, nếu có bất cứ điều gì mà chúng ta xử lý không đúng, chúng ta nên tìm hiểu lý do.

* Trước khi chúng ta chỉ trích, lên án, hoặc thậm chí muốn trừng phạt một ai đó, chúng ta nên nhìn vào chính mình trước tiên (Tiên trách kỷ, hậu trách bỉ).

* Ngay cả khi chúng ta đã được bắt đầu bởi một phương pháp rất tốt, chúng ta vẫn cần phải nhìn lại mỗi ngày để xem liệu có tiến triển hay không. Nếu không, chúng ta cần cải thiện nhanh chóng.

Lợi ích của sự phản tỉnh nội cầu:

* Nhận ra chúng ta thực sự là ai.

* Tăng cảm giác hạnh phúc tự thân.

* Trải qua một trạng thái bình an nội tâm.

* Tình huống ngoại cảnh không ảnh hưởng đến trạng thái tâm trí của ta.

* Sau khi thức tỉnh tâm linh, chúng ta sẽ vượt qua ảo ảnh của thế giới, và những gì về vật chất sẽ không còn quan trọng nữa.

* Nếu ta cảm thấy mình có ý tưởng và hành vi vị ngã, sau khi phản tỉnh nội cầu, ta sẽ hoan hỉ mở lòng vị tha nhiều hơn.

* Luôn luôn thực hành phản tỉnh nội cầu, sau đó chúng ta sẽ biết tại sao chúng ta không tiến triển và trình độ tinh thần của chúng ta còn thấp.

* Sau khi phản tỉnh nội cầu trong một thời gian dài, chúng ta trở nên thận trọng hơn trong thái độ của chúng ta, theo suy nghĩ của chúng ta, trong động cơ của chúng ta.

* Khoảnh khắc chúng ta nhận ra rằng mình không khiêm tốn, hòa nhã trong ý nghĩ, lời nói và hành vi, chúng ta chỉ cần phản tỉnh nội cầu thì sau đó sẽ thay đổi thái độ.

* Phản tỉnh nội cầu, đưa chúng ta vượt ra ngoài những rào cản về tinh thần, tình cảm và thể chất và tận hưởng hạnh phúc cũng như sự bình an nội tâm.

Khi đạt được sự phản tỉnh nội cầu, chúng ta sẽ có thể làm chủ được trí óc và suy nghĩ, và nếu cần thiết, có thể thay đổi ảo giác của ta - thế giới của ta, thông qua sức mạnh sáng tạo của tâm trí, bằng cách tập trung suy nghĩ của mình vào những chủ đề đã chọn, (như câu kinh, lời kệ).

LỜI KẾT

Thực hành phản tỉnh nội cầu là tự rà soát hàng ngày, giữ giới, làm việc thiện và không hành động xấu, thiền định hàng ngày, quan sát trí tuệ của chính mình, nuôi dưỡng trái tim từ bi của chúng ta và thực hiện sự thật trong im lặng. Thông qua thiền định liên tục, tâm trí được yên tĩnh; lặn sâu bên trong bằng một cái trí yên tĩnh, nhận thức được ý thức tiềm ẩn bên trong. Từ bên trong sâu thẳm, tâm linh sẽ thăng hoa một cách tuyệt vời, an lạc và hạnh phúc. Sau đó, chúng ta sẽ biết chúng ta là ai. Sự giác ngộ là ở chỗ đó, chỗ mà con đường thức tỉnh tâm linh sẽ mở ra cho mọi người.

Nếu chúng ta không thường xuyên kiểm tra phản tỉnh, kiểm soát lời nói và tâm trí của mình; không có can đảm đối mặt và thừa nhận những điểm yếu của mình thì thật khó cho chúng ta nhận được sự ban phước từ Đức Thượng Đế.

Phản tỉnh nội cầu là một sức mạnh to lớn có thể kích thích sự thức tỉnh tinh thần ở những người khác. Như tất cả Thức là một, làm dịu tâm trí của chúng ta, đi vượt ra ngoài nó, và trở nên có ý thức về thực tại của mình, ảnh hưởng đến toàn thế giới./.

THANH CĂN

 
 
Trang Chánh • •