CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO CHIẾU MINH VÔ VI TAM THANH.

TIỂU SỬ HÀNH ĐẠO CỦA GIÁO CHỦ NGÔ MINH CHIÊU.

Giờ nầy THẦY điểm thâm công.

Ngày sau con sẽ cỡi rồng về nguyên.

Ấn Bản Tháng 09 năm 2011

Trọn Bộ.

Người viết: MINH HỒNG (Đắc quả: Như Ý Nương Nương).

Người viết tiếp theo: CHÂU MINH ĐỊNH (Đắc quả: Minh Định Chơn Nhơn).

Người đánh máy: HUỲNH MINH TỶ.

Người trình bày: TRẦN MINH LONG.

Linh Bửu Đàn tháng 04 năm Tân Mão 2011.

Ấn bản tháng 09 năm 2011.

Trọn Bộ.

MỤC LỤC.

Lời nói đầu Tr... 6./.

1) Khởi sự trường chay tại Phú Quốc Tr...8./.

2) Quan Phủ học Đạo tại Linh Tiêu Tr...14./.

3) Thấy cảnh Bồng Lai Tr...16./.

4) Sự tích thờ Thiên Nhãn Tr...17./.

5) Chuyển về Sài Gòn Tr...21./.

6) Thăng chức Tri Phủ Tr...23./.

7) Truyền bá Đạo Cao Đài Tr...25./.

8) Giờ khai Đạo Tr...30./.

9) Từ chối phẩm Giáo Tông Tr...34./.

10) Sự phân chia Cơ Tuyển Độ & Phổ Độ Tr...35./.

11) Thành lập Chiếu Minh Đàn Trang 38.

12) Truyền Đạo người đầu tiên Tr...43./.

13) Khai Cao Đài Đại Đạo Chiếu Minh Đàn tại Cần Thơ:

- 1) Quan Phủ bảo Hồ Văn Quí xuống Cần Thơ Tr...46./

. 2) Độ vợ chồng anh Nguyễn Như Bích Tr...48./

. 3) Độ vợ chồng anh Tư Huỳnh Tr...55./

. 4) Độ anh Nguyễn Thiện Niệm Tr...57./

. 5) Độ vợ chồng ông Hội Đồng Thơm Tr...58./

. 6) Độ ông Cả Nhựt Tr...63./

. 7) Dời Đàn về nhà anh Tư Huỳnh Tr...67./

14) QUAN PHỦ XUỐNG CẦN THƠ LẦN THỨ NHỨT Tr...68./

15) Lý Đại Tiên giải nghĩa chữ Chiếu Minh Đàn Tr...74./

16) Quan Phủ xuống Cần Thơ phân Đàn chánh,Đàn thứ Tr...76./

17) Tám Tỵ lập Đàn thứ tại Cần Thơ Tr...80./

18) Tư Huỳnh phát nguyện trường chay & chị Hường học Đạo Tr...81./

19) Quan Phủ truyền Đạo ở Sài Gòn Tr...83./

20) Truyền Đạo cho bà Trình Tr...84./

21) Sự tích thờ Quan Phủ Ngô Văn Chiêu Tr...86./

22) Trị bệnh ông Đốc Kỷ,bà Hội Đồng Phượng & ông Hội Đồng Thơm Tr...88

23) Chị Luông lên Sài Gòn học Đạo Tr...92./

24) Gạo của Minh Hồng nấu không chín Tr...94./

25) Quan Phủ phân thân giáng Đàn Tr...97./

26) Ngài xuống Cần Thơ giảng Đạo & xuất tánh phân thân Tr...100./

27) Cần Thơ lập nghiã địa Chiếu Minh Tr...104./

28) Ơn Trên cho Quan Phủ bài thi khi Ngài tu được 7 năm Tr...108./

29) Quan Phủ đi du lịch Tr...114./. 30) Sau khi đi du lịch về Tr...124./

31) Minh Hồng chúc tết Quan Phủ:

... 1/- Minh Hồng lên Sài Gòn Tr...127

... 2/- Minh Hồng chúc tết Quan Phủ Tr...128

...3/- Quan Phủ gia ơn cho con chị Minh Trình Tr...129

...4/- Chị Phủ Lượng đến tìm Ngài Tr...131

..5/- Quan Phủ điểm Đạo cho đệ tử Tr...133./

. 32) Phong chức sắc thử lòng đệ tử Tr...135./

. 33) Tại Cần Thơ đánh bạc Ngài ở Sài Gòn biết Tr...136./

. 34) Quan Phủ dạy Minh Hồng cất am tu Tr...138./

. 35) Nghe phỏng lời Thầy mà đem hết của tiền làm công quả Tr...140...

. 36) Độ ông Hội Đồng Bùi Quang Huy Tr...142./

. 37) Quan Phủ định liễu tại Trà Lơn Tr...146./

. 38) Minh Hồng cố chấp,Quan Phủ hóa thân Hòa Thượng Tr...151./

. 39) Quan Phủ liễu Đạo Tr...154./

. 40) Lời di chúc của Ngài Tr...164./

. 41) Cuộc tẩn liệm Tr...165./

. 42) Đưa Ngài qua nghiã địa Tr...167./

. 43) Những lời Ngài hồi còn tại thế Tr...168./

. 44) Bài thi tầm Đạo Tr...171./

. 45) Bài thi răn lòng Tr...172./

. PHỤ LỤC-

1) Những vị đệ tử đầu tiên của Thầy Tr...174./.

2) Thông tin trang bìa... Trang 175.







TIỂU SỬ HÀNH ĐẠO ĐỨC NGÔI HAI (Phần: I).

5-LỜI NÓI ĐẦU./.

Chư hiền huynh, hiền hữu đã thấy quyển Lịch Sử đã tái bản ra nhiều lần rồi mà mỗi lần đều có ghi thêm chút ít tài liệu thu thập là vì Đức Giáo Chủ Ngô Minh Chiêu hồi còn tại thế truyền Đạo cho cácđệ tử cấp nhứt ở rải rác khắp nơi, những lời giáo lý Ngài đều có để lại, mỗi đệ tử cấp nhứt ai cũng có thâu thập ít nhiều. Khi Ngài qui vị rồi, thì sau đó đến thời kỳ khó khăn đóng cữa chùa, bắt Đạo nên mỗi người ở một chỗ. Vì vậy mà khó bề sưu tập những lời giáo lý của Ngài để lại một lần cho hoàn tất được. Mãi đến nay là năm Ất Mùi, năm Đạo thứ 35 mới có cơ hội thuận tiện để ghi lạ những Tánh Đức của Thầy hồi sanh tiền cùng quí vị Hiền Huynh, Hiền Tỷ đã trực tiếp thọ lãnh chơn truyền bí pháp với Đức Giáo Chủ, hoặc không thọ lãnh chơn truyền bí pháp. Thì nơi đây tại Cần Thơ là nơi Ngài tiền định hồi còn tại thế để lập cơ Đạo Chiếu Minh Tam Thanh cất Thảo Lư, Tổ Đình cùng lập Nghĩa Địa và chọn lọc những lời chơn thành của quí ông như: Minh Huấn, Minh Niệm, Minh Thượng, Minh Huỳnh, Minh Huy, ông Nguyễn Như Bích, ông Hội Đồng Thơm. Quí bà như: Minh Hồng, Minh Trình, Minh Luông, Minh Hường, Minh Nguyệt v.v... Nhớ được những mẫu chuyện về gương sống của Ngài nhiều người, nhiều câu chuyện mà ghi lại và đã kết thành quyển Tiểu Sử để làm sử liệu cho người hậu học noi chung. Chớ thật chúng tôi không dám thêm bớt chi hết, là vì lúc Ngài còn tại thế tánh cách ở bình dân, đến khi Ngài mở Đạo cũng chẳng tự cao, ai lớn thì Ngài kêu bằng anh chị, nhỏ thì kêu bằng đạo hữu. Về lý Đạo thì dạy trung dung chớ không nêu ở tuyệt đối. Vì vậy chúng tôi chẳng dám văn hoa, có sao ghi vậy.

Ở quyển Tiểu Sử Quan Phủ NGÔ VĂN CHIÊU đã ghi lại gồm hai phần:

Phần đời và phần đạo của Quan Phủ như lúc nhỏ còn đi học, trong lúc làm quan, làm việc tại Sài Gòn, làm việc tại Tân An, làm việc tại Hà Tiên. Lịch Sử Quan Phủ đã viết rồi nên ở quyển Tiểu Sử nầy, chúng tôi không có tài liệu gì khác hơn để bổ sung cho phần đời, vì vậy mà chúng tôi không phải lặp lại nữa. Chúng tôi chỉ ghi tiếp thêm phần Đạo của Quan Phủ bắt đầu từ mục "D", lúc trấn nhậm ở Phú Quốc so với những gì mà Lịch Sử Quan Phủ chưa có ghi.

-KHỞI SỰ TRƯỜNG CHAY TẠI PHÚ QUỐC .

. Ngài đến trấn nhậm Phú Quốc nhằm ngày 26 tháng 10 năm Nhâm Thân (1920).

Trong ít ngày Ngài đã sắp đặc công việc xong xuôi, nhơn ngày giờ nhàn rảnh Ngài kêu vài người lính ở trong dinh lâu năm được thông hiểu đường sá mới đi với Ngài dạo xem phong cảnh.

Ngài đi vào lúc sáng sớm khi ánh Thái Dương vừa bừng lên, trong lòng Ngài vui vẻ như đã cổi mở hết sự đời. Ngài vừa leo, vừa trèo, vừa ngắm cảnh thích chí, phỉ tình, lòng càng vui thú, cộng thêm cái thú vui nữa là có chim nó hót, nó chuyền cành sát một bên

Ngài như để chào đón người hiền mà không có chút gì sợ hãi. Đến nỗi những anh lính theo Ngài phải động tâm muốn bắt, Ngài nói: "Nó cũng có mẹ con, chồng vợ, cũng biết thương nhau như loài người vậy. Nó tự kiếm ăn, mình chẳng nên động nó. Bắt nhằm chim mẹ, bỏ con cả ổ đói lạnh chết, bắt chồng, bỏ vợ buồn rầu, chẳng nên coi việc đó là thường. Thiệt một điều quả báo không vừa." Mấy người lính nói: "Có ai xét kỹ như Quan Lớn vậy đâu!". Kế gặp con nai mắc bẩy, Ngài đứng nhìn con nai mà suy nghĩ, mấy người lính bàn rằng: " Bữa nay Quan Lớn mới lần đầu tiên đi dạo núi mà gặp nai mắc bẩy chắc điềm không tốt. Vậy xin Quan Lớn trở về!". Ngài nói: "Ấy là điềm lành của tôi đó! Con nai tức là lộc, nếu người đi mộ Công Danh mà gặp điềm này là xấu lắm. Còn tôi du sơn tìm chỗ thanh tịnh cầu Tiên mà đặng điềm này là quí. Nếu không lo tu kỷ cứ bám theo quan cao lộc cả thì chạy đâu cho khỏi cạm bẩy trần! Tỷ như con lộc này đi kiếm ăn mà sa bẩy đó.". Ngài liền bảo lính mở con nai mà thả, khi mở ra thì con nai không vùng vẫy,mở thả rồi con nai nhìn Ngài từ từ đi chớ không chạy. Ngài lấy tiền cột vô cần bẩy và nói: "Đây là trả tiền con nai." Sau đó Ngài cùng đoàn tùy tùng đi tiếp đến trưa thì đến một cái hang động, Ngài ngắm xem phong cảnh mát mẻ lạ thường khó tả. Điểm này là chặng dừng chân cuối cùng cuộc hành trình của Ngài hôm nay, rồi xế qua đoàn của Ngài xuống núi ra về. Kể từ Ngài đi dạo núi Dương Đông trở về, khi mãn giờ làm việc thì cứ vào ra ngó mong trên núi, nhìn Trời, nhìn núi, rồi nhớ đến toàn linh đang đi sâu trong đường danh lợi, lặn hụp sông mê, nhốt chặc trong tường tứ khổ, dầu cho tự tỉnh cũng chẳng có đường mà lên. Nghĩ vậy mà Ngài quên hết sự đời, trong lòng cứ nao nao với một chữ Tu.

Đêm ngày cầu nguyện: "Nếu ngộ đặng Thầy Tiên truyền Đạo thì Ngài chí quyết tu trì, mong ngày thành Đạo đặng độ chúng sanh.". Rồi ở đó cũng có ít người tu hiền tới lui chơi với Ngài. Mấy người nầy cũng thường lên núi Dương Đông cầu Tiên, mà cầu hoài không đặng. Nay lại thưa với Ngài: "Chúng tôi có nghe Quan Lớn ở Hà Tiên mỗi lần cầu cơ thì có Tiên giáng ,chúng tôi sở mộ lắm mà chưa có dịp đi. Nay Quan Lớn ra đây, chúng tôi xin mời Ngài lên núi Dương Đông cầu cơ một lần, nhờ đức của Quan Lớn chắc có Tiên giáng. Chớ chúng tôi cầu thì Thần Hoàng,Thổ Địa về chớ không có Tiên".

Ngài hỏi: " Mấy anh cầu tại đâu?".

Thưa: "Chúng tôi cầu ở mấy bàn thạch".

Ngài nói: "Hôm mới ra,tôi di dạo núi có gặp cái động, rồi tôi hỏi thăm mấy thầy tu trên núi nói đó là Động Linh Tiêu, tức là động Ngọc Hoàng linh lắm.

Họ muốn ở đó tu mà không được, bị Sơn Thần đuổi. Vậy nếu muốn cầu Tiên thì từ đây phải ăn chay cho tới ngày rằm và tắm gội sạch sẽ, sắm lễ vật lên đó cầu". Tất cả đồng hứa chịu, đến ngày mười bốn tựu lại rồi đi sớm, đến nơi quét dọn lau chùi, đặt bày lễ vật: nhang, đèn rực rỡ, rồi đồng lạy vái. Đêm đó thiết Đàn trang nghiêm. Ngài chứng Đàn đọc bài cầu ba hiệp thì Bề Trên giáng. Cơ viết như sau: Ta chào chư nho có lòng túc kỉnh:..

THI:

Biệt mù Chưởng Quản giáng Đàn Trung.

Rộng lớn Càn Khôn điệp điệp trùng.

Tiên Phật một lòng ra độ chúng.

Ông Trời đâu bỏ tấm lòng chung.

Giáng khuyên chư sĩ thương đời khổ.

Am, cốt khắp cùng chẳng biết nơi.

Tự giác lòng thành trên chiếu giám.

Nội trong chư sĩ rõ Ta cùng?



TRƯỜNG THIÊN:

Thừa nhàn trăng tỏ nương mây.

Dương Đông giá ngự động tiền đêm thanh.

Giáng Đàn ứng hiện điềm lành.

Thấy người chí mộ tu hành nhứt tâm.

Thân hành xuống diễn canh thâm.

Giáng cơ hỏi thử đạo tâm ít hàng?

Hỡi này,chư sĩ nội Đàn!

Ai mà tạo dựng thế gian như vầy?

Chia ra Nam, Bắc, Đông, Tây.

Ngũ Châu thành lập năm màu sắc dân.

Tranh nhau miếng đỉnh chung trần.

Gần đây sẽ gặp Long Vân sửa đời.

Thái bình khắp chốn cùng nơi.

Á, Âu, Phi, Mỹ hưởng đời thuần phong.

Mừng cho con Lạc cháu Hồng!

Vui thay nhơn loại ngoài trong cũng hòa.

Gặp hồi Thuấn nhựt âu ca.

Nghiêu Thiên trị thế sơn hà bình yên.

Ban truyền huyền bí Đạo Tiên.

Chiêu an bốn biển phục hồi vị căn./



... Chư Nho rõ ai giáng chăng?

Bạch: không biết ,xin Ơn Trên giải rõ!

(Cười..cười...) Ta rất vui,sau sẽ rõ.

Ta kiếu!



Khi bãi Đàn rồi, kẻ thì bàn ông Tiên này ,người bàn ông Tiên kia. Nhưng riêng Ngài thấy ẩn ý trong bài thi và bài trường thiên thì Ngài rõ biết là Đức Thượng Đế giá lâm. Mấy ông hỏi:"Lấy chỗ nào mà biết Đức Thượng Đế giáng Đàn?".

Ngài nói:"Lấy nội câu đầu của bài thi thì cũng đủ biết:

Biệt mù Chưởng Quản giáng Đàn Trung.

Chỉ có một Đấng Tạo Hóa cầm quyền Chưởng Quản; "Biệt mù" là ở trên Trời, tức là Đức Ngọc Đế đó. Chớ ai mà dám xưng Chưởng Quản? Huống gì trọn bài thi và bài trường thiên có nhiều câu thố lộ rõ ràng. Tại mới nghe qua nên chưa hiểu ,chớ nghiệm lâu thì sẽ thấy !". Rồi Ngài giải nghĩa từ câu cho tất cả nghe. Nội Đàn ai nấy cũng mừng nói: "Nhờ đức của Quan Lớn, chớ chúng tôi dễ gì cầu được !".

Kể từ đây Ngài thường lên núi Dương Đông cầu Tiên. Dân sự Phú Quốc lấy làm lạ vì trước khi Ngài ra trấn nhậm thì cầu Tiên rất khó, mà từ khi có Ngài thì mỗi lần cầu đều có Tiên giáng cơ dạy Đạo. Sau ít lâu có việc cầu cơ thì Bề Trên giáng không xưng danh, bảo Ngài chịu làm đệ tử thì Tiên Ông sẽ truyền Đạo pháp cho và bảo Ngài lo tu ,ăn chay thêm cho được mười ngày rồi thăng.

Nhưng Ngài cũng biết được là Đức Thượng Đế. Ngài nghĩ: "Nếu theo lời dạy mà được kết quả gì thì cũng nên. Còn ăn chay một tháng mười ngày mà chết còn phải luân hồi thì tu như vậy cũng chưa đúng.". Ngài định có dịp cầu Tiên Ngài sẽ bạch hỏi lại.

Cách ít ngày sau, có người ở gần có chuyện muốn cầu Tiên nên đến mời Ngài chứng Đàn: Tiên Ông giáng cơ, Ngài chưa kịp bạch hỏi chi hết thì cơ viết như vầy: "CHIÊU! Tam niên trường trai.". Ngài mới bạch rằng :"Tiên Ông đã dạy thì đệ tử vâng, xin Tiên Ông bảo hộ ! Nếu đệ tử y theo lời dạy thì có chứng quả chi? ". Tiên Ông bảo: "Cứ hành y lời dạy, sau đệ tử sẽ rõ." Kể từ hôm đó thì Ngài bắt đầu trường chay vào năm 1921 tại Phú Quốc.

-QUAN PHỦ HỌC ĐẠO TẠI LINH TIÊU

Kể từ năm Tân Dậu (1921) tháng giêng ngày mùng 01 đêm đó vào giờ Tý, Ngài lập Đàn rồi ở ngủ luôn tại động. Ngài vừa mơ màng vía Ngài thấy bước ra khỏi động. Lúc ấy Ngài nghe trong mình nhẹ phơi phới ,rồi có một cụm mây hạ xuống, Ngài liền bước lên, coi nhẹ như bông gòn, bay khỏi mây xanh đến trước một ngôi Bửu Điện cao lớn, mùi thơm bát ngát, ánh sáng chói lòa vô cùng tốt đẹp. Rồi Ngài lần bước đến trước cữa điện, ngước mặt nhìn lên thấy tấm bảng chói ngời có 8 chữ đề: "LINH TIÊU BỬU ĐIỆN NGỌC HOÀNG NGỰ GIÁ". Ngài đọc vừa xong thì bỗng nhiên cữa điện mở hoát ra, hơi thoại khí trong điện thoạt ra mát mẻ. Ngài liền bước vô giữa điện thấy một ông già ngồi giữa mặc đồ rất đẹp, chiếu ánh thần lực đủ đầy, hào quang chói mắt. Còn hai bên có hai hàng chư Tiên, chư Phật mặc áo vàng, áo xanh cân đai rực rỡ. Ông ở giữa ngồi trên chiếc tòa sen cao lớn phía trước rồi bay lại chỗ Ngài đứng. Ngài liền quì xuống chắp tay xá thì nghe ông ngồi trên tòa sen nói : "Từ đây học Đạo điêu luyện cho thành, kịp ngày mở Đạo độ tận nguyên sanh". Nói xong truyền Đạo cho Ngài và dạy Ngài phải giữ kín bí truyền ,chừng tới thời kỳ khai Đạo thì Tiên Ông cho biết.

Từ đây Ngài lo việc tu hành, ít hay giao thiệp với ai, có ai đến thăm thì Ngài khuyên: "Ráng lo tu hành!". Vì vậy mà những người tu hành trìu mến, Tết đem bánh trái cho Ngài. Ngài nói: "Anh em có lòng tốt vậy cũng như tôi đã hưởng rồi, giờ đem hết lại khám cho mấy người tù tội, Tết đâu có món gì chỉ có ba hột cơm mà thôi. Anh em về cho chòm xóm hay, ai muốn làm phước thì ngày 28 hội bánh trái lại đây rồi giao cho mấy ông kỳ lão có đạo đức đem chia đều một lượt". Nhờ Ngài nói vậy mà hằng năm tới Tết hoặc rằm nguơn lớn người ta cho đồ mấy người tội phạm ăn đầy đủ...

-THẤY CẢNH BỒNG LAI (3)

19/-SỰ TÍCH THỜ THIÊN NHÃN (4)

Rồi một buổi sớm mai khoảng 8h, Ngài đương ngồi tham thhiền để tìm hiểu về cách thờ. Bỗng đâu trước mặt Ngài cách xa độ hai thước tây xuất hiện một Thiên Nhãn rất lớn, hào quang chói ngời, gồm cả bầu Trời có đủ Nhựt, Nguyệt, Tinh. Ngài lấy làm sợ hãi, lấy hai tay che mặt lại chẳng dám nhìn. Độ chừng nửa phút đồng hồ Ngài mở mắt ra thì cũng còn thấy Con Mắt mà lại càng chói rạng hơn nữa.

Ngài liền chắp tay vái rằng :"Bạch Tiên Ông, đệ tử rõ biết cái huyền diệu của Tiên Ông rồi. Xin Tiên Ông đừng làm vậy nữa. Nếu phải Tiên Ông bảo thờ như vậy thì xin cho biến mất tức thì ! ". Ngài vái xong thì Thiên Nhãn mờ lần rồi biến mất.

Như vậy mà Ngài cũng còn ngờ nên Ngài cũng chưa tạo Thiên Nhãn mà thờ. Cách vài ngày sau, Ngài cũng thấy y như lần trước nữa. Ngài cũng nguyện sẽ tạo Thiên Nhãn mà thờ rồi Thiên Nhãn từ từ biến mất.

Sau cùng, Ngài hầu cơ bạch hỏi cách thờ thì Tiên Ông dạy vẽ Thiên Nhãn y như Ngài đã thấy mà thờ và xưng tên là:"CAO ĐÀI TIÊN ÔNG ĐẠI BỒ TÁT MA HA TÁT". Và dạy Ngài kêu Tiên Ông bằng THẦY mà thôi. (Vậy là ĐẠO CAO ĐÀI bắt đầu từ mùng 01 tết Tân Dậu (1921) phải kể là năm ĐẠO thứ nhứt.). Tất cả chư Nho hầu Đàn thảy đều lấy làm lạ vì thuở nay không thấy kinh sách nào nói đến danh CAO ĐÀI TIÊN ÔNG.

Duy có một mình Ngài là bực đại căn trí huệ, xem trong mấy bài thi của Đức Cao Đài cho thì Ngài đoán lý hiểu nghĩa biết là Đức Thượng Đế giá lâm. Không còn ngần ngại gì nữa vì Ngài đã sở nguyện: Nếu có Thầy Tiên dạy Đạo thì Ngài mới học, mà nay được Đức Thượng Đế làm Thầy và truyền Đạo. Nên Ngài quyết chí tu trì trường trai giới sát và nguyện với Đức Thượng Đế rằng: "Nếu độ cho Ngài thành Đạo thì Ngài sẽ lo độ lại chúng sanh, tùy theo phước đức của mỗi người ".

Thời gian này, khi Ngài ra Phú Quốc đã ngộ được Đạo rồi thì Ngài không rảnh mà về thăm gia đình. Bà Lớn là vợ của Ngài viết thơ gởi thăm: "Kể từ ông ra Phú Quốc đương kiêm,.Không thấy về thăm viếng vợ con. Chúc cho ông đời,Đạo vẹn tròn. Bề gia đạo phần tôi toan liệu.". Ngài viết thơ trả lời: "Biển trần khổ hai đường họa phước. Gặp Đạo mầu thuận ước cứ trương bườm. Chớ tôi không biết ở đâu là con. Mà cũng không biết ở đâu là vợ. Hay là cái nợ ở chốn ngục đường ? ". Rồi Ngài không nói gì nữa hết.

Khi Ngài tu được vài năm thì Đức Thượng Đế giáng cơ dạy Ngài như sau: "Ngày nay đệ tử gặp đặng chơn truyền, chư Tiên, chư Phật đồng hoan hỷ. Vậy đệ tử cũng nên đãi chư Tiên ,chư Phật một lễ.". Ngài thưa: "Bạch Thầy, đệ tử ở chốn phàm trần biết lấy chi mà đãi chư Tiên, chư Phật cho xứng đáng. Vậy đệ tử xin dưng một tiệc rượu Champagne chẳng biết được không ? Xin Thầy dạy cho đệ tử rõ!". Đức Thượng Đế trả lời: "Tự nơi lòng đệ tử.". Qua hôm sau Ngài mua rượu Champagne lập một lễ, rót đầy 24 ly đặt trong mâm để trên bàn. Ấy là Ngài tỏ lòng biết ơn chư Tiên, chư Phật. Chừng Ngài tu được ba năm thì Đức Thượng Đế có dạy Ngài:

"Ba năm lao khổ độ nhứt nhơn.

Thầy xem nay rõ lòng dạ chắc.

Thương vì con trẻ hỡi còn thơ!

Gắng chí tầm phương biết Đạo mầu.".



Một ngày nọ có vụ kiện thưa tranh nhau vì quyền lợi, Ngài mới giảng giải cho biết: "Kiếp con người không mấy chốc, vật chất đâu bền, ít lâu rồi bỏ. Chữ Tu là quí nhứt ,chết được đem theo". Rồi Ngài khuyên phải giữ chữ Hòa vì một màu da sắc tóc, vì tình đồng loại, sống chung trong một Địa Cầu ;chớ nên sanh chuyện hơn thua làm gì mà hãy lo làm ăn. Vì vậy mà họ không ưa, mới kiếm kế kiện Ngài nên Ngài mới được dịp đổi về Sài Gòn.

-CHUYỂN VỀ SÀI GÒN-(5)

-Khi xảy ra vụ người kiện Ngài thì đức Thượng Đế giáng cơ dạy:

"Trường chay cửu cửu họa vô ưu.

Lập chí như đồng thị như như.

Sanh sự tại nhơn nhơn sanh sự.

Học Đạo vô vi Ngã tâm tu."

_ Khi Ngài sắp sửa đổi về Sài Gòn thì đức Thượng Đế có cho Ngài bài trường thiên:

"Kín ngoài rồi lại kín trong.

Đường xa phong cẩn thưởng lòng để vui.

Công đầu chịu cực đừng lui.

Thiên Tào thăng thưởng Đạo mùi ngọt ngon.

Ba năm lòng sáng như son.

Trèo non xuống biển vuông tròn công phu.

Chớ phiền mỏi mệt lòng tu!

Trăng kia mây áng đường ngu gặp hiền.

Mựa toan vụ thấy thanh thiên.

Các Đạo rõ biết mối truyền chánh tông.

GIỜ NÀY THẦY ĐIỂM THÂM CÔNG.

NGÀY SAU CON SẼ CỠI RỒNG VỀ NGUYÊN.

Ngoài trong sạch tợ bạch liên.

Bền lòng gìn giữ mối giềng chớ xao.

Chiêu Chiêu Nguyệt thấu thanh thao.

Trên đầu cũng có Thiên Tào xét xem.

Thắm mùi con biết lân nem.

Đề-hồ con uống Thầy xem ân cần...

Đạo luyện khắc kỷ phục thân.

CHIÊU con khá giữ Thầy phân cạn lời ! "

(Đến đây mãn cuộc Ngài ở Phú Quốc và ngộ Đạo tại núi Dương Đông. Tác giả có lời tặng núi Dương Đông và lời bàn về cuộc đời, đạo của Ngài:

NÚI DƯƠNG ĐÔNG:

Nơi Phương Đông,

Trời bừng ánh sáng.

Núi Dương Đông chói rạng Đạo Trời.

Dương Đông tiếng gợi khắp nơi.

Dương Đông Thầy mở độ đời Kỳ Ba.

Dương Đông đồ sộ một tòa.

Dương Đông là gốc Đạo nhà phát khai.

Dương Đông trổ mặt CAO ĐÀI.

Muôn năm thanh sử tạc hoài Dương Đông./

-Thấy trong cuộc tiền trình của Ngài đều có Thiên Ý định mặc dầu người ta làm cho Ngài bị đổi: "Khi đi thì Ngài tầm được Đạo,lúc về thì khai Đạo." Bỡi vậy trong đời thạnh suy đều có số.).

THĂNG CHỨC TRI PHỦ (6).

. TRUYỀN BÁ ĐẠO CAO ĐÀI (7).

Năm Ất Sửu là năm Đạo thứ năm thì Đức Thượng Đế mới dạy Quan Phủ Ngô Văn Chiêu truyền bá mối Đạo ra đặng độ chúng sanh tu hành cho kịp hội. Ngài vâng lịnh vừa tuyên bố mối Đạo ra thì tại Sài Gòn, Ngài độ trước hết được mấy ông:

1) Ông Phủ Vương Quang Kỳ.

2) Ông Phán Nguyễn Văn Hoài.

3) Ông Phán Võ Văn Sanh.

4) Ông Đốc Học Đoàn Văn Bản.

Rồi ông Phủ Kỳ cũng khuyên được nhiều ông. Thì đây là nhóm thứ nhứt của Đạo Cao Đài mới hình thành.

Đây xin nói qua nhóm thứ hai:

1) Ông Cao Huỳnh Cư.

2) Ông Phạm Công Tắc.

3) Ông Cao Hoài Sang.

Trước hết, các ông này tập xoay bàn cầu người quá vãng. Ban đầu thì người quá vãng nhập vào thi họa chơi, sau có một vị Tiên Ông xưng danh là A Ă Â cũng làm thi họa vận vậy. Vì việc xoay bàn rất bất tiện nên có một vị Tiên Cô xưng là Thất Nương giáng dạy phải tạo một cây Ngọc Cơ mà dùng. Đến ngày 24 tháng 12 năm 1925 thì Thất Nương giáng cơ dạy phải chỉnh Đàn cho nghiêm và tiếp giá. Nghe như vậy mấy ông Cư, Tắc nửa mừng nửa sợ lật đật sắm hương đăng, trà quả chỉnh Đàn nghi tiết. Rồi hai ông Cư Tắc ngồi lại phò loan thì cơ viết như vầy:

NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ KIM VIẾT CAO ĐÀI GIÁO ĐẠO NAM PHƯƠNG.

THI:

Muôn kiếp có Ta nắm chủ quyền.

Vui lòng tu niệm hưởng ân Thiên.

Đạo mầu rưới khắp nơi trần thế.

Ngàn tuổi, muôn tên giữ trọn biên.

_. Đêm nay phải vui mừng vì là ngày Ta đã xuống trần dạy Đạo bên Thái Tây.

Ta rất vui lòng mà đặng thấy chư đệ tử kính mến Ta như vầy.

Nhà này sẽ đầy ơn Ta, Ta sẽ làm cho thấy huyền diệu đặng kính mến Ta hơn nữa. Bấy lâu Thầy tá danh A Ă Â là cốt để dìu dắt các con vào đường đạo đức, rồi chẳng bao lâu đây các con phải ra giúp Thầy mà độ thế. Các con có thấy Thầy khiêm nhượng là dường nào chưa? Các con nên bắt chước Thầy trong mảy múng thì mới xứng đáng là người đạo đức. Cách ít lâu, đức Thượng Đế mới giáng cơ dạy mấy ông: Trung, Cư, Tắc, Sanh, Hậu, Đức phải hiệp với Quan Phủ Ngô Văn Chiêu mà lo mở Đạo. Đức Thượng Đế lại dạy rằng: "Mọi việc chi chi cũng do nơi Chiêu là anh cả". Lúc này trong Đạo kể được 12 ông này là trước hết.

Đêm 30 tháng Chạp năm Ất Sửu, Quan Phủ Ngô Văn Chiêu đi với hai ông Cư và Tắc đến nhà mỗi vị đặng chúc mừng Tân Xuân. Ngài lại dặn: "Tới nhà mỗi vị thì hai ông Cư,Tắc phò cơ cho đức Thượng Đế phê cho tánh hạnh của mỗi vị". Trước hết đến nhà ông Võ Văn Sang, đi tới nhà ông Lê Văn Trung là sau cùng.

Bài thi cho ông Võ Văn Sang:

THI:

Tân dân hỷ kiến đắc tân niên.

Phổ Độ Tam Kỳ bá thế hiền.

Nhứt tịnh chủ tâm chơn đạo lý.

Thăng Thiên huợt địa chỉ như nhiên.



Thi cho ông Cao Quỳnh Cư:

THI:

Sắp út thương hơn cũng thế thường.

Cái yêu,cái dạy ấy là thương.

Thương không nghiêm trị là thương dối.

Dối dạ vì chưng yếu dạ thương.



Bài kệ cho ông Vương Quan Kỳ.

THI:

Nhựt nhựt tân hề nhựt nhựt tân.

Niên đáo tân hề Đạo giữ tân.

Vô lao công quả tu đương tác.

Niên hóa niên hề Đạo tối tân.



Thi cho ông Lê Văn Giảng:

THI:

Trần tục là nơi chỗ biển buồn.

Nghe nơi Đại Đạo ráng nghe luôn.

Ở trong nhà sẵn Thầy đưa khó.

Ách nạn chi chi cũng chảy tuôn.



Thi cho ông Nguyễn Trung Hậu, tự là Thuần Đức:

THI:

Thuần phong mỹ tục giáo nhơn sanh.

Đức hóa thường lao mạc vị danh.

Hậu thế lưu truyền gia pháp quí.

Giáo dân bất lậu tán thời manh.



Thi cho ông Nguyễn Văn Hoài:

THI:

Vô vi tối yếu Đạo đương cầu.

Đệ tử tâm thành bất viễn ưu.

Thế sự vô duyên vô thế sự.

Tiêu tư bất xuất ngoại giang đầu.



Thi cho ông Phạm Công Tắc:

THI:

Ngao ngán không phân lẽ thiệt không.

Thấy thằng áp út quá buồn lòng.

Muốn giàu Thầy hứa đem cho của.

Cái của, cái công phả trả đồng.

Tắc ráng học Đạo, nếu không Thầy biểu Chiêu đánh!..



Thi cho ông Đoàn Văn Bản:

THI:

Thương thay trung tín một lòng thành!

Chẳng kể quan mà chẳng kể danh.

Thiệt thòi bấy phận không con nối.

Thấy rứa lòng Ta cũng chẳng đành.



Thi cho ông Lý Trọng Quí:

THI:

Lỡ một bước, lướt một ngày.

Một lòng thành thật chớ đơn sai!

Lôi thôi buổi trước nhiều ân xá.

Lấp lửng đừng làm tội bữa mai.



Thi cho ông Lê Văn Trung:

THI:

Đã thấy ven mây lố mặt dương.

Cùng nhau xúm xít dẫn lên đường.

Đạo Cao phó có tay cao độ.

Gần gũi sau ra vạn dặm trường.



GIỜ KHAI ĐẠO (8)

Mùng một tết năm Bính Dần giờ Tý, Đức Thượng Đế giáng dạy rằng: "Chư đệ tử nghe Thầy phân:

Chiêu buổi trước có hứa lời truyền Đạo cứu vớt chúng sanh, nay phải y lời mà làm chủ mối Đạo dìu dắt cả môn đệ vào đường đạo đức đến buổi chúng sanh thành công. Chẳng nên tháo trút, phải thay mặt cho Thầy mà dạy dỗ chúng sanh.

Trung, Kỳ, Hoài ! Ba con phải lo thay mặt cho Chiêu mà đi độ nhơn sanh, nghe và tuân theo.

Bản, Sanh, Giảng, Quí ! Lo dọn mình đạo đức đặng truyền bá cho chúng sanh tu hành, nghe và tuân theo.

Đức, Hậu ! Tập cơ rồi theo mấy anh đặng độ người, nghe và tuân theo".

Đây là lời của Đức Thượng Đế phân công đầu tiên và là ngày kỷ niệm khai Đại Đạo Cao Đài về cơ Phổ Hóa: Ngày mùng 01 tháng Giêng năm Bính Dần giờ Tý vậy. (13 Février 1926).

Đến ngày mùng 09 tháng Giêng, vía Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế, ông Phủ Vương Quan Kỳ có thiết Đàn tại nhà ông số 80 đường Lag randière...Vào thập niên 60 là đường Gia Long). Đêm ấy, ông có mời chư nho hầu Đàn, Đức Thượng Đế giáng cơ dạy như sau:

THI:

Bửu Tòa thơ thới trổ thêm hoa.

Mấy nhánh rồi sau cũng một nhà.

Chung hiệp ráng vun nền đạo đức.

Bền lòng son sắt đến cùng Ta.

- Thầy làm chủ, sau các con sẽ hiểu. Thầy vui muốn cho các con thuận hòa nhau hoài. Ấy là lễ hiến cho Thầy rất trọng và phải chung lo cho danh Đạo Thầy, Đạo Thầy tức là các con mà các con tức là Thầy, phải làm cho nhau đặng uy tín, đừng ganh gỗ nghe! Các con giữ phận làm tùy ý Thầy muốn, ngày kia các con được rõ ý của Thầy.

- Khi ấy Quan Phủ Ngô Văn Chiêu xin Đức Thượng Đế lấy tên mấy người đệ tử cho chung một bài thi kỷ niệm. Đức Thượng Đế liền cho bốn câu:

THI:

CHIÊU, KỲ, TRUNG độ dẫn HOÀI, SANH.

BẢN đạo khai SANG, QUÍ, GIẢNG thành.

HẬU, ĐỨC, TẮC, CƯ Thiên Địa cảnh.

HƯỜN, MINH, MÂN đáo thủ đài danh.

-(Mười hai chữ lớn trong ba câu trên là tên của 12 môn đệ trước hết của Đức Thượng Đế. Còn ba chữ lớn câu chót là tên ba vị hầu Đàn.

- Tại sao Đức Thượng Đế lại phân công cho quí ông này phải thay mặt cho Quan Phủ Ngô Văn Chiêu mà không dạy Ngài đi truyền bá?

Bởi mỗi một thời kỳ mở Đạo đều phải có hai cơ: cơ Tiểu Thừa và cơ Đại Thừa. - 1)- Cơ Tiểu Thừa để dạy về Trung, Hiếu, Nghĩa, Nhân và lập công bồi đức cho những người còn ở thế học hành theo cho có lớp lang trật tự. Ấy là một đều giúp nước về mặt chính trị, khỏi phải mất công mà giữ gìn, phân xử mà trong nước cũng được thái bình. Quốc thới dân an không còn trộm cắp. Nên có câu: "Quốc hữu Đạo tất hưng, Quốc vô Đạo tất suy" là như vầy:

- Người biết Đạo thì biết có Trời cầm luật vô hình chí công, một mảy lông không lọt. Nên không khi nào dám làm đều thầm khuất.

- Còn người không hiểu đạo lý thì đâu biết được luật vô hình, đâu sợ tội lỗi việc gì cũng dám làm. Bởi cho rằng không ai hay biết được. Bởi thế nên các Triều-chính đều trọng Đạo, tôn hiền, nên được trị dân cả mấy trăm năm, mà đời đời người ta còn ca tụng ngợi khen.

- 2) Cơ Đại Thừa để tuyển độ người hiền gọi là bực Nguyên Nhân, tu xuất thế, cầu học bí truyền tâm pháp luyện đắc Nhị Xác Thân mà thành Tiên Phật, mà từ xưa đến nay trong Tam Giáo đều có. Nên cơ Đạo vừa mở bùng ra thì Đức Thượng Đế phải phân công cho mười một đệ tử đi truyền bá về cơ Tiểu Thừa mà độ đời.

- Còn phần Quan Phủ Ngô Văn Chiêu thì nắm giữ chơn truyền tâm pháp, ngày đêm công phu tịnh luyện. Và hơn nữa Ngài còn đang làm việc, không đi chỗ nầy chỗ kia được. Nên Đức Thượng Đế phân công như vậy. Nhưng Ngài cũng chung lo như là:

Ngài xuất tiền của Ngài mua cho ít vị mỗi người một cái áo xuyến đen, hoặc áo hàng trắng để mặc mà làm việc cho Đạo. Và cứ vào ngày thứ bảy thì Ngài có thiết một tiệc chay tại nhà để đãi các vị đã thay mặt cho Ngài mà đi giảng Đạo, Ngài nói :"Đó là công quả chút ít", cũng như chung lo đó là bổn phận của Ngài trong việc truyền bá Đạo Cao Đài vậy.

TỪ CHỐI PHẨM GIÁO TÔNG (9)

- Đàn riêng ngày 14-04-1926:

"TRUNG, CƯ, TẮC ! Ba con lập tức lên CHIÊU bảo nó sắm liền một bộ Thiên Phục Giáo Tông màu trắng có chữ CÀN của Bát Quái y như kiểu của Thầy vẽ thêu bằng chữ vàng. Dặn nó mua thứ hàng thiệt tốt, Mão cũng vậy". Ngài không chịu lãnh chức Giáo Tông nhưng Ngài cũng xuất tiền ra sắm một bộ áo mão. Còn phận Ngài thì quyết chí tu cho thành Đạo mà thôi. Chớ còn chức phận, mão cao áo tốt thì Ngài quyết từ chối.

SỰ PHÂN CHIA CƠ TUYỂN ĐỘ & PHỔ ĐỘ (10)

- Ngày mùng một tháng giêng năm Bính Dần (1926), Đức Thượng Đế đã giáng cơ sắp đặt rồi nhưng bỗng dưng lại có nhiều Đàn Thánh Ngôn trục xuất Quan Phủ như sau đây:

- 1) Ngày 24-03-1926 Thánh Ngôn

:"... Chiêu đã có công tu lại là môn đệ yêu dấu của Thầy nên Thầy muốn ban chức Giáo Tông cho nó. Song vì lòng ám muội phạm đến oai linh Thầy mà ra lòng bất đức, chẳng còn xứng đáng dìu dắt các con, nên Thầy cất phẩm thưởng nó. Thầy nhứt định để chức ấy lại mà đợi người xứng đáng hay là chính mình Thầy đến mà dạy dỗ các con. Chiêu đã hữu căn hữu kiếp,Thầy lại dùng huyền diệu mà thâu phục nó đặng rồi, nó trước các con. Biết bao phen Thầy gom các môn đệ của Thầy lại, sở cậy nó ấp yêu giùm cho Thầy, dường như gà mẹ ấp con. Song nó chẳng vâng mạng lịnh Thầy lại đành lòng cắn mổ, xô đuổi dường ấy thì làm sao cho xứng đáng cái trách nhiệm lớn của Thầy toan phú thác cho nó? Các con đừng trông mong cầu rỗi nó. Nghe và tuân mạng Thầy...".

2)- Thánh Ngôn ngày 27-03-1926:

"...Chư môn đệ từ đây đừng nhìn nhận Ngô là đạo hữu nữa.".

3)- Thánh Ngôn ngày 11-04-1926:

"... Chư môn đệ từ đây đừng nhìn nhận Võ Văn Sang là đạo hữu nữa, nghe à !.. ".

4)- Thánh Ngôn ngày 25-06-1926:

"... Chiêu, Sang quyết lòng lập Tả Đạo nên Thầy quyết định trục xuất chúng nó ra khỏi. Nếu để vậy Đạo phổ thông ra càng thêm trắc trở, nội bọn nó các con đã biết nhiều rồi. Các con phải nói những con khác cho nó biết".

5)- Đàn ngày mùng 04 tháng 07 năm Bính Dần tại nhà ông Lê Văn Trung:

- . Hôm đó Quan Phủ Chiêu có đến hầu Đàn nhưng Ngài không vô mà Ngài ở bên ngoài ngó vô. Ở trong hai ông Cư,Tắc phò loan cơ viết như sau: "Kỳ ra mời Chiêu vào ! ". Ông Kỳ ra mời Quan Phủ Chiêu, Ngài mới vừa vô tới thì ông Cư buông cơ nhảy lên trên bàn gầm hét nói rằng: Đấng Chí Tôn nhập xác". Khi thấy Quan Phủ Chiêu lại làm dữ lên nữa. Rồi ông Cư xưng là Đức Chí Tôn nhập xác biểu một hai phải trục xuất Chiêu ra khỏi Đạo Tam Kỳ. Rồi mấy ông kia cũng lên xưng Quan Thánh, Quan Âm, Văn Xương Đế Quân nhập xác rồi lạy xác của Đức Chí Tôn là ông Cư đặng xin tội cho ông Phủ Chiêu. Nhưng mà xác của Đức Chí Tôn quyết không tha. Quan Phủ Chiêu bèn chậm rãi nói: "Tôi đi đây, trước tôi có xin phép Thầy rồi, Thầy cho tôi mới đi. Sao tôi đến đây lại quở như vậy? Thôi tôi xin về!". Nói rồi Ngài lạy bàn thờ Thầy rồi Ngài ra về luôn.

- Từ đây Ngài mới tách riêng, không còn gần gũi với mấy ông Cư, Tắc nữa. Ở Tây Ninh từ khi Quan Phủ Chiêu tách riêng rồi có vài lần nhập xác làm ầm ỹ giữa mặt mấy ngàn đạo hữu.

6) Đêm 14 rạng sáng rằm tháng 10 năm Bính Dần tại chùa Từ Lâm Tự cũng vậy. Rồi ba ông Trung, Cư, Tắc in các bài Thánh Ngôn trục xuất Quan Phủ Chiêu và ông Phán Võ Văn Sang đem đi phân phát trong bổn đạo. (Nếu ai là người Đạo cựu thì đều biết.).

THÀNH LẬP CHIẾU MINH ĐÀN (11)

- Thấy công cuộc xảy ra, Ngài mới lập Đàn coi Bề Trên dạy ra sao.

THI:

CHIÊU an bá tánh khả hồi tâm.

Nghi thức Thiên Cơ Đạo dị tầm.

Độ thế giai do công mẫn cán.

Môn thành duy hữu đức hoàng thâm.

Sanh phùng Đại Đạo tu cần bộ.

Chí ngộ chơn truyền khả tốc lâm.

Long Hổ tùng vân cu đẳng hội.

Hoa khai hựu nhựt báu giai ân.



Cho chư Nho:

THI:

Ta là chúa cả Thánh, Thần, Tiên.

Cho khắp nhơn gian rõ Đạo thiền.

Khá học theo CHIÊU lời dạy bảo!

Hễ vào một Đạo chớ nên phiền!"

- Chừng bãi Đàn thì các đạo hữu xin Ngài lập cái Đàn tại Sài Gòn. Ngài nói: "Sài Gòn là nơi náo nhiệt, rồi đây sẽ có nhiều lần tiêu trưởng". Ngài liền chọn tại Cần Thơ, Ngài nói:

"Ở Cần Thơ có người giao gánh Đạo được".

Ngày 18 tháng 08 năm Bính Dần Ngài xuống hầu Đàn ở Cái Khế: Bề Trên cho Ngài bốn bài thi và một bài trường thiên:

THI:

Đạo tâm tự giác giác nguyên tâm.

Kiệt lực Bồ Đề nhứt đảnh tầm.

Ngoạn Cẩm đương sơn Thiên thị ứng.

Biến du tạm kiển lịch triều thâm.

Thất huờn thế cuộc an qui chánh.

Cửu chuyển trần tâm bát diễn cầm.

Tinh Đẩu Càn Khôn canh hoán cổ.

Quân minh lập tấn yết toàn khâm.

THI:

Diệu lý hoằng khai diệu lý tâm.

Sơn quân ký tích chuyển khoan tầm.

Đề lao chánh niệm tùng kim cổ.

Nhả Đạo tự an giác hậu thâm.

Lạc đức qui mô ban ứng tại.

Lưu nhơn tông chỉ khởi tương cầm.

Minh y cố lý minh y phục.

Vọng thủ hoài lai vọng thủ khâm.

THI:

Từ đây mới biết Đạo mầu linh.

Nghe thấy không con hoại giáo trình!

Mối Đạo đâu vầy tranh nghĩa vậy.

Pháp môn cũng lạ gọi nhơn minh.

Biết rằng tôn giáo tranh nhiều ngả.

Trong luật tu hành nhẫn nhục thinh.

Chê cũng dầu mà khen cũng thế.

Mặc ai tai mắt giữ công bình.

THI:

Trời mù tối mắt biết chi linh.

Nổi sóng trò cười khắp nẻo trình.

Lúc thúc miệng trương trong giếng ếch.

Se sua mắt thế chốn hang minh.

Sông sâu sào vắng chưa tường đáy.

Non cạn không đương nổi tiếng thinh.

Mắt ngó coi con kia thấy Đạo.

Đạo Cao vô tận nổi danh bình.

TRƯỜNG THIÊN:

Đạo là đường cả chông gai.

Biết thời lần mở dốc mài ắt khi.

Một lòng quyết Đạo huyền vi.

Có thân có phận chi chi phải dè.

Thầy nói thì con biết nghe.

Ông địch không lỗ gọi the là đời.

Làm cho trò lánh mặt hơi.

Có công có của biết tời nẻo kia.

Làm cho cách mặt xa chia.

Vang lừng bốn phía người chia Đạo lành.

CHIÊU con đừng tưởng chớ tranh!

Trước con có thấy đường quanh việc đời.

Tu hành nhẫn tiếng các nơi.

CHIÊU con khá biết trên đời cát hung.

Giữ lòng niệm chữ Thiên Tùng.

Mặc ai đua sự giáo tùng bớ CHIÊU !

Còn Trời còn nước Thuấn Nghiêu.

Vào ra lừa lọc đừng khiêu chữ Lòng.

Ngày sau thê tử ấm phong.

Phật Tiên phổ hóa con phòng hậu lai.

Thấy con luyện thuốc Tiên Đài.

Lòng lo cầu nguyện Hồng Thai giữ mình.

NGÀY CƠM HAI BỮA CHO TINH.

SỚM LO VIỆC NƯỚC CHIỀU TRÌNH CÔNG PHU.

Một lòng một dạ rèn tu.

Dây lèo tay bánh rừng nhu tầm vào.

Ngọn đèn con tỏ như sao,

Con ôi, giữ lấy khéo trao tay người

!Ở trong cữa lục sáng ngời.

Chiếc thoàn biển khổ rước người vượt qua.

Khắp trong trần thế Ta-bà.

Khuyên con chậm bước Thiên Tòa đề lai.

Thiện tai thiện tai mặc ai.

Bồ Đề nhứt cú luận bài siêu thăng.

Xét câu Nhựt Nguyệt đồng đăng.

Hai vừng mây chiếu ngọc hằng bảng danh.

Tưởng trong lưỡng hổ đấu tranh.

Phiêu phiêu chánh giáo khó hành thiện căn.

Mau mau xét lấy ăn năn!

Phản hồi cựu ước định hằng bổn tâm.

Thiên thính hề tịnh vô âm.

Bớ kia bốn đệ đạo cầm phổ thông!

Hai mắt ngó thấy vừng hồng.

Vẹt mây cung Quảng quang đồng nhơn gian.

Sanh sự thiệt sự không an.

Chi bằng hết dạ Tây Bàn lọc thân!

Thấy trong trần thế tu cần.

Tu không nhằm nẻo giành phần công cao.

Làm cho thấu tới Thiên Tào.

Hô phong thiện ác sắc giao bốn thần.

Dưới Trời sanh sự chẳng cân.

Cuồng phong lâm nhiễm một lần cuồng ngôn.

Thương con Thầy tỏ chánh tôn.

Kìa kìa tứ đệ cho tồn qui mô! (1)

-(Tứ đệ là bốn ông Trung, Cư, Tắc, Sanh).



TRUYỀN ĐẠO NGƯỜI ĐẦU TIÊN (12)

- Ông Thông Phán Lê Văn Huấn (1) làm việc tại Tòa Bố Sài Gòn, ông mắc bệnh ho lao. Ông được thấy Quan Phủ Ngô Văn Chiêu vài lần nhưng chưa hầu chuyện. Nghe người ta nói Ngài tu ăn chay trường chớ không biết Ngài tu cách nào, mà xem tướng của Ngài thì biết là bực phi phàm.

- Ông dự định để có dịp hỏi thăm Ngài cho biết, đến chừng gặp Ngài thì ông Huấn cứ nhìn mãi, muốn hỏi nhưng quên không biết hỏi việc gì, cứ vậy hoài đôi ba lần mà chưa hỏi được. Về nhà thì nhớ, khi gặp lại quên làm như có ai cản vậy.

- Sau khi Quan Phủ đi cầu Đàn ở Hiệp Minh Cái Khế nhằm ngày 18 tháng 08 Bính Dần (24-09-1926). Hôm đó Ngài đi làm việc về gặp ông Lê Văn Huấn, ông Huấn chắp tay chào Ngài mà chưa kịp nói gì thì Ngài hỏi: "Ông Phán Huấn bệnh gì mà ốm vậy?". Ông Huấn trả lời: "Thưa Quan Lớn, tôi bị bệnh lao thuốc men cũng nhiều mà không hết".

- Chú thích: (1) Lê Văn Huấn về sau chứng quả Đạo Đức Kim Tiên./

.. Ngài nói: "Tu thì hết chớ gì. Nay tới ngày giờ tu rồi, tôi nói giùm cho. Tu hay không tự ý.". Ông Huấn nói: "Thưa Quan Lớn, nếu được như lời thì tôi xin theo Quan Lớn tu hành.". Ngài nói: "Muốn tu thì chiều lại nhà tôi". Rồi Ngài chỉ đường và số nhà, Ông Huấn về nhà sửa soạn đến liền. Khi Ông Huấn đến nhà Quan Phủ, ông hỏi: "Bẩm Quan Lớn, Quan Lớn biểu tôi tu mà cách tu làm sao? Và gọi là Đạo gì, gốc ở đâu?". Quan Phủ nói: "Gốc Đạo ở nơi Đức Thượng Đế truyền cho tôi hồi năm Tân Dậu tại Phú Quốc gọi là Đạo Cao Đài, ở nước Việt Nam mới có lần đầu tiên. Còn ai tu theo tôi là bực tối Thượng Thừa trường chay, thủ giới, qui luật giữ hành cho đúng, công phu luyện Đạo tứ thời cho đủ, lúc nào cũng khép mình giữ hạnh Tiên Gia, thế tình phải dứt tuyệt, phải xét mình mà sửa. Nếu làm lớn càng phải xét cho kỹ hơn đặng làm tấm gương lành cho kẻ nhỏ sau soi lấy. Thực hành âm chất chẳng chuộng tiếng khen. Hữu hình sắc tướng là đã dẹp hết, đừng mơ ! Vậy mới xứng đáng là người tu bực tối Thượng Thừa Vô Vi Đại Đạo. BỠI MUỐN THÀNH TIÊN THÌ PHẢI CÁCH TỤC". Ông Huấn nói: "Thưa, tôi vừa nghe Quan Lớn phân qua chí lý, thà tu cho kỹ như vậy mới đáng một kiếp tu hành. Từ lâu tôi cũng thấy và biết cuộc đời là giả, cứ lẩn quẩn nghèo giàu, bịnh khổ gàn thân, sống tạm ít lâu rồi chết. Uổng sanh một kiếp làm người không lưu lại tấm gương lành gì, tiếc thay một đời vô dụng ! Nghĩ vậy rồi muốn tu mà chẳng thấy đường nào là chánh nên chưa quyết định. Nay cũng may duyên gặp Quan Lớn từ bi chỉ dạy, tôi nguyện thọ giáo theo Quan Lớn tu hành.".

Quan Phủ nói: "Nếu muốn tu thì trước phải cầu xin nơi Đức Thượng Đế, như được thì tôi chỉ cho tu.". Ông Huấn xin về để thu xếp gia đình. Ít ngày sau, ông đến thưa với Quan Phủ và sắm hương đăng, trà quả đem trước Thiên Bàn cúc cung khẩn đảo cầu nguyện xin keo và lập đại thệ. Đức Thượng Đế chứng keo rồi thì sau đó Quan Phủ truyền Đạo cho ông.

- Đến sau Quan Phủ qui vị, huynh Minh Huấn được lệnh đức Giáo Chủ Ngô Minh Chiêu phê làm Huynh Trưởng trong Đạo Chiếu Minh và nối kế truyền giáo nam phái tại Sài Gòn gọi là Miền Tiền Giang.

- Huynh Minh Huấn tu đã hiển Đạo tại thế , biết được trong tâm người. Bạn đạo muốn hỏi việc gì chưa nói ra thì Huynh đã trả lời cho biết rồi.



Thủ Bút Ngô Văn Chiêu.(Thánh Danh: Ngô Minh Chiêu, Đắc Quả Vị PHẬT Ngôi Hai Giáo Chủ)













TIỂU SỬ HÀNH ĐẠO ĐỨC NGÔI HAI ( Phần: I I ).

KHAI CAO ĐÀI ĐẠI ĐẠO CHIẾU MINH ĐÀN TẠI CẦN THƠ (13)

- (Rằm tháng 10 năm Bính Dần, Năm Đạo Thứ Sáu).

1)- QUAN PHỦ BẢO HỒ VĂN QUÍ XUỐNG CẦN THƠ:

Một ngày kia, Quan Phủ gọi anh Hồ Văn Quí đến nói :"Này anh Quí ! Nay hữu phước mới gặp lúc lập công đầu với Đạo, hiện giờ cơ Đạo đã đến thời kỳ phát triển tại tỉnh Cần Thơ thuộc miền Hậu Giang. Vậy anh thay mặt cho tôi xuống Cần Thơ truyền bá mối Đạo trước. Sang năm Đinh Mão tôi sẽ xuống.". Anh Quí nói: "Thưa Quan Lớn ! Tôi trước có ở Cần Thơ là người dẫn lối cho thầy kiện nên ai cũng biết mặt. Tôi đi nay cũng mấy năm mà hiện giờ trở về nói Đạo chắc người ta không nghe. Hơn nữa biết dựa nơi đâu mà khởi đầu hành đạo?"

- Quan Phủ nói: "Không hề gì, bởi trước chưa biết tu nên lỡ làm đều quấy. Nay biết tu ăn năng làm phải còn có chỗ chuộc trừ. Sợ trước làm phải,sau làm quấy mới là hại. Cứ nghe lời tôi thì có Thánh Thần phò hộ, việc gì cũng xuôi.".

Anh Quí thưa: "Trong công cuộc đi phải làm cách nào? Xin Quan Lớn dạy bảo!"

- Quan Phủ lấy một bức tượng Thiên Nhãn và một cây Ngọc Cơ trao cho anh Quí, rồi nói :"Anh đi đem hai món này theo xuống Cần Thơ trước hết phải tìm nhà Nguyễn Như Bích, người này cũng là dòng chánh giáo."

- Anh Quí hỏi: "Sao Quan Lớn biết rõ vậy?"

- Ngài nói: "Bởi hồi tôi trấn nhậm Hà Tiên có quen ông Hội Đồng Hiến là ông thân của Nguyễn Như Bích có Đạo Tiên, người cũng là chơn tu, có đem thuyền đến mời tôi đi du hồ ngoạn cảnh. Cùng nhiều lần lên núi cầu Tiên đều có ông Hiến đi hầu. Vì tôi cầu Đàn thì có Tiên giáng nên ông Hiến mừng, cứ theo tôi đi cầu cơ hoài. Nay ông Hiến quá vãng rồi, còn người con là Nguyễn Như Bích về ở Cần Thơ. Cứ xuống đó khởi đầu chừng ít lâu thì có người đến thỉnh. Cứ sắp sửa đi chừng đó sẽ biết ! "

- Anh Quí:"Thưa Quan Lớn ! Định cho tôi ngày nào khởi hành?"

- Chú thích:

(1)- Là Thập nhị Khai Thiên,Thiên khai ư Tý.

(2)- Bởi anh Quí chưa tin Ngài thành Đạo tại thế nên Ngài làm vậy cho anh Quí có đức tin.-/

- Anh Quí về sửa soạn hành lý, tối đến ngủ tại nhà Quan Phủ đặng sáng ngày 12 lên xe sớm. Sáng công phu và cúng Thời Mẹo xong, Ngài chiết một tách nước trắng cúng trên Thiên Bàn đem xuống tiễn anh Quí. Ngài nói: "Trong thời Tam Kỳ Phổ Độ nầy không có gì quí bằng một trảng bạch thủy, ai đủ đức tin dùng nó thì bệnh gì cũng hết. Nếu về căn quả thì phải vui chịu trả đền, rồi bề Trên cũng từ bi giảm bớt. Chớ thiếu mà không trả thì sao cho dứt được? Bởi Trời cầm luật chí công". Ngài đưa cho anh Quí nói: "Uống đi cho tinh thần sáng suốt làm tròn phận sự, sau cũng đặng hưởng".

2)- ĐỘ VỢ CHỒNG ANH NGUYỄN NHƯ BÍCH:

- Về sự tích ông Cả Nhựt như vầy:

Ông ở cố cựu tại Cần Thơ là một nhà Trưởng Giả có điền đất, ông sống với bà được ba người con gái. Người thứ tư là Hồ Thị Huế, người thứ năm là Hồ Thị Hường, người thứ sáu là Hồ Thị Huê. Người thứ năm gả cho Nguyễn Như Bích con của ông Hội Đồng Hiến ở Hà Tiên, nên tại Cần Thơ nói nhà anh Bích thì ít người biết đến. Chừng anh Quí hỏi ngay người quen với anh Bích thì người mới chỉ cho. Rồi anh Quí liền trở về nhà Đốc Công Hiếu thì thấy con của ông Hiếu lấy bức tượng xỏ dây cột vô kéo chơi. Anh Quí buồn lấy tấm tượng cuốn lại ôm đồ từ giã ra đi...

- Anh Bích nói :"Cũng lạ, thuở nay tôi chưa gặp Ngài lần nào mà sao Ngài lại biết tôi? Còn anh nói Ngài tu đắc Đạo tại thế mà có gì làm bằng chứng?"

- Anh Bích nói: "Những lời tôi cật vấn anh từ nảy tới giờ là cốt yếu tôi muốn rõ biết nguồn cội đạo lý ra sao. Chớ việc tu hành là đều thận trọng, phải nhứt tâm giữ trọn một đời. Còn mới nghe qua chưa rõ chánh tà rồi lãnh phần làm bướng, trước tấn sau thối đã phí công mà còn có lỗi. Thiên hạ lại chê cười cho mình là người dục tốc nên tôi mới vấn anh đó. Và được nghe qua những lời anh phân hồi giờ thì cha tôi cũng có công theo Quan Lớn buổi đầu ấy cũng là Thiên định. Lẽ thì tiền tấn, hậu kế cho trọn nghĩa trước sau. Ngặt vì thuở nay đã ba đời tu thờ Đạo Tiên, nay lại thờ Đức Cao Đài Thượng Đế, như vậy rồi biết tội phước ra sao. Vậy anh phân cho tôi nghe thử?"

- Anh Quí nói:"Thiệt anh kỹ quá ! Vậy anh nghe tôi nói: Đức Thượng Đế là Chúa Tể Càn Khôn Thế-giái, dù cho Tam Giáo cũng phải tùng quyền. Đức Thượng Đế nhứt định nơi đâu thì các vị Giáo Chủ phải giáng sanh mở Đạo nơi đó, nên Đạo mở có trước có sau là cốt để truyền nối nhau mà dìu dắt nhơn sanh đời nầy sang đời nọ. Việc tu hành cũng như sự học, trường này mở ra một lúc rồi đến ngày thi tuyển chọn được vài phần, kế tiếp phải sang trường khác thì phải có ông thầy khác dạy. Chớ có lẽ nào ông thầy trước đã qua phần hay là hưu nghỉ rồi mình cứ ngồi đó mà đợi hay là thôi học, chịu dốt làm dân hoài hay sao? Phản thầy hay là bội nghĩa là do ở lòng mình học với ông này rồi chê ông kia vậy là phản bội. Theo thói đời thì hay tranh luận của người ta chớ Phật Tiên cũng vì lòng bác ái với tánh từ bi mới giáng sanh mà độ thế.

- Trong Tam Giáo, Đạo nào cũng một gốc nơi Đức Thượng Đế mà ra. Còn hiện nay là buổi Hạ Nguơn cơ tiêu diệt sắp đến mà Tam Giáo thì đã thất chơn truyền, nên Đức Thượng Đế tá phàm dùng huyền diệu cơ bút mà độ tận nguyên sanh. Nay chúng ta rất may duyên hữu phước học tu với Đức Chí Tôn là Đấng Chúa Tể rồi, còn sợ ai bắt tội nữa?"

-Anh Bích nói: "Anh phân nghe cũng phải, nhưng còn câu Tam Giáo thất chơn truyền thì câu đó tôi còn phải hỏi thêm nữa. Hiện nay tôi thấy trong Tam Giáo người ta cũng còn tín ngưỡng, cũng biết làm lành, cũng còn ăn chay mà anh nói thất chơn truyền ở chỗ nào?" Anh Quí trả lời: "Còn tín ngưỡng là một tấm lòng cao cả thủy chung, còn nếu chỉ ăn chay và làm lành thì có khác, vì người đời còn làm được huống chi là Đạo! Đạo thì phải ăn chay lành, đó là mới bước đầu vào cữa Đạo của hai bực Hạ và Trung Thừa. Còn chỗ chánh lý cuối cùng tuyệt đối của đường tu là phải có thọ lời bí khuyết khắc kỷ luyện thành là Thượng Thừa như bên Phật thì nói Xá Lợi, bên Tiên thì gọi Kim Đơn, bên Thánh thì nói Mâu Ni; hiện nay thì không còn. Vậy mới gọi là thất lạc chơn truyền đó!"

- Anh Bích nói:"Thiệt may mà gặp anh đây chẳng khác nào vẹt đặng ngút mây mù, được thấy thêm một thế giới mới nữa. Nay vợ chồng tôi nguyện tu theo Cao Đài, xin thờ Thượng Đế". Anh Quí nói: "Anh muốn thờ thì phải chọn chỗ cho tinh khiết, sắm sửa thượng tượng, giờ Tý lập Đàn cầu cơ coi bề Trên dạy ra sao". Anh Bích hỏi :"Cách cầu làm sao? Mấy người cầu mới được?". Anh Quí nói: "Bốn người mới đủ phận sự: Hai người phò loan,một người bên dương, một người bên âm, một người đọc giả,một người điễn ký". Anh Bích nói:"Hiện đây mới có ba, vậy để tôi sai người cho chị ở nhà tôi hay coi có chịu tu không?"

- Anh Bích nói vừa dứt lời thì vợ của anh là chị Hường nói: "Xin lỗi anh Quí, vì ông bạn của tôi chưa được biết anh, còn tôi với anh là người bản sở. Xin hỏi thêm ít lời cho chắc mới dám tu. Thưa anh! Từ lâu sở trường anh là dẫn mối cho thầy kiện, rồi cớ sao bỏ đi đâu mấy năm làm nghề gì? Nay trở về lại muốn dẫn đường về Tiên, biết tới hay không vậy anh cả?". Anh Quí cười ngất trả lời: "Chị ơi ! Người ở thế mấy ai khỏi lỗi đó chị. Sợ có hai đều đáng tiếc là làm lỗi mà không biết, cứ làm trọn đời hoặc biết mà không ăn năn, và may duyên gặp đường chánh mà không tỉnh ngộ đó là uổng. Còn tôi biết được việc làm của mình không trọn lành nên quyết lánh thế tầm tu, may duyên gặp đặng bực siêu phàm là Quan Phủ Chiêu mở Đạo, tôi xin theo tu hành lập công chuộc tội. Được Ngài thâu nhận và sai về bổn xứ truyền bá mối Đạo lập công. Còn công cuộc Đạo là việc lớn, trên có Đức Thượng Đế nắm quyền hành cơ bút rồi thì ai dám làm sai, dưới có Quan Phủ Chiêu dẫn đường. Còn tôi là mách thót có chi mà chị phòng ngại !" Rồi ba người cười xòa.

- Nhà lớn của ông Cả Nhựt cũng gần đó. Hai người con gái của ông là cô Tư Huế và cô Sáu Huê lại chơi. Anh Bích mừng và tỏ bày tự sự theo lời của anh Quí cho chị với em rồi hai người chịu tu hết. Anh Quí nói :"Hồi tôi lãnh lịnh đi thì Quan Phủ có dặn ngày rằm phải khai Đàn cho kịp. Vì rằm tháng 10 thuộc về Hạ Nguơn mà khai Đàn độ thế rất hợp lắm. Vậy chị về thưa lại với Bác xem sao?" - Hai chị về thưa lại cho cha hay là ông Cả Nhựt hay. Ông Cả nói: "Chị em bây muốn tu thì liệu sức chớ tao không biết". Tối hai chị tới chờ đến giờ Tý cúng. Anh Quí kêu anh Bích nói: "Tôi với anh Phò Loan, còn chị Tư, chị Năm làm Đọc Giả, chị Sáu Điễn Ký". Anh Bích nói: "Tôi có cái bịnh ngặt lắm, ban đêm một giờ đi tiểu ba bốn lần nên sợ ngồi không đặng !" Anh Quí nói :"Vậy thì mình mới cúng và cầu nguyện với Ơn Trên rồi mình ngồi đại coi ,ở Sài Gòn có ít người mới tu cũng có bịnh lạ, nhờ Quan Phủ dạy chúng tôi cầu nguyện với Đức Chí Tôn thỉnh bạch thủy cho uống. Có sự tin tưởng thì sau cũng hết". Anh Nguyễn Như Bích nghe theo liền quì lạy và cầu nguyện thỉnh bạch thủy uống rồi ngồi Phò Loan với anh Hồ Văn Quí.

- Đức Thượng Đế về Đàn lâu hơn một giờ mà anh Bích tự nhiên không sao hết. Chừng bãi Đàn thì anh Bích mừng lắm. Từ đó anh cứ cúng rồi thỉnh bạch thủy uống rồi hết bịnh luôn. Từ đây anh Bích và vợ là chị Hồ Thị Hường sốt sắng lắm. Cứ ngày thứ bảy thì có lập Đàn, những người ở gần hay tin đến hầu khá đông.

3) ĐỘ VỢ CHỒNG ANH TƯ HUỲNH:

- Một ngày kia, chị sáu Huê nghe tin chị Hường là vợ của anh Nguyễn Văn Huỳnh ,hai chị này là bạn thiết với nhau, nay hay tin chị Hường buồn sự thế, tình đời đen bạc, muốn phủi tóc lánh đời tầm chốn ẩn tu. Chị Huê đi đến phân trần khuyên nhủ và nói: "Thôi, chị đừng đi đâu! Hiện nay có mối Đạo Cao Đài mới ra đời độ thế do Quan Phủ Ngô Văn Chiêu ở Sài Gòn mở ra. Ngài sai anh Hồ Văn Quí xuống khai Đàn tại nhà anh rể tôi, mỗi ngày thứ bảy thì có lập Đàn cầu cơ. Đức Thượng Đế giáng cơ dạy Đạo hay lắm, hổm nay cũng có cầu đôi ba lần rồi, mấy chị em tôi tu hết. Vậy chị tới để hầu Đàn cho biết!" Anh Nguyễn Văn Huỳnh đứng ngoài nghe rõ tự sự thì bước vô vui vẻ nói: "Được, về việc cầu Tiên tôi ham lắm, từ lâu đã nghe mà chưa thấy. Vậy bà đi, tôi đi nữa. Hầu Đàn cho biết!"

- Đến ngày thứ bảy hai ông bà đến hầu Đàn. Trước khi đi anh Huỳnh có viết một lá sớ đốt tại nhà để thử cho biết giả chơn, trong sớ có hỏi về việc làm ăn. Đến khi lập Đàn thì Đức Thượng Đế về dạy Đạo và trả lời sớ nói: "Huỳnh! Trong thời mạt tận, sao không lo tu hành cho kịp Hội Long Hoa mà lại hỏi việc thế?". Rồi cho anh Huỳnh một bài thi và chị tư Hường một bài thi:

Thi cho Huỳnh:

HUỲNH Đình tụng niệm được thành Tiên.

Sẽ thấy Như Lai Phật tại tiền (1).

Chẳng sớm hồi đầu e rữa nhụy,(2).

Màng chi danh lợi buổi chinh nghêng !..

-...Chú thích:

(1) Nghĩa là anh Huỳnh được gặp Đức Giáo Chủ tại thế cũng như Đức Phật Như Lai.

(2) Bỡi anh Huỳnh lớn tuổi nếu không sớm lo tu để trễ thì cũng như bông tàn đổ nhụy.



- Thi cho chị Hường:

HƯỜNG hoa đua nở chốn trần gian.

Tỉnh giấc chung lo mối Đạo Vàng.

Kịp hội Thầy Trời ban xuống thế.

Ngày về Tiên Cảnh được vinh quang.

- Kể từ đây, Anh Huỳnh và vợ là Nguyễn Thị Hường (1) thường tới lui hầu Đàn./.

4) Độ Anh Nguyễn Thiện Niệm(2):

- Anh Nguyễn Thiện Niệm làm việc trong nhà băng cũng nghe tin nhà anh Bích lập Đàn cầu Tiên, có Đức Thượng Đế giáng cơ dạy Đạo. Anh niệm để ý đợi ngày thứ bảy đến thử coi, nếu thiệt Đức Thượng Đế giáng phàm mở Đạo thì tu chớ còn tìm ai nữa!

- Đến ngày thứ bảy, anh Niệm đợi đến lúc trong nhà lập Đàn, cơ về rồi anh mới vô quì ngoài cữa nguyện thầm: "Nếu thiệt Đức Thượng Đế giá lâm dạy Đạo, xin kêu tên tôi và cho tôi Phò Loan thì tôi mới tin."

-...Chú thích:

(1) Ở đây có hai người tên Hường: một người là Hồ Thị Hường, một là Nguyễn Thị Hường.

(2) Nguyễn Thiện Niệm sau chứng quả GIÁC MINH KIM TIÊN./.

- Đức Thượng Đế về dạy tiếp. Chừng bãi Đàn, Anh Niệm quì giữ Thiên Bàn tự lập nguyện tu và trường chay luôn. Sáng về nhà, nội trong ngày đó anh lập bàn thờ cúng lạy hằng ngày./.

5) ĐỘ VỢ CHỒNG ÔNG HỘI ĐỒNG THƠM:

Cũng tại Cần Thơ có ông Hội Đồng Quảng Hạt Võ Văn Thơm và bà là Huỳnh Thị Trình, hai ông bà là người hiền đức ưa việc làm lành. Một ngày nọ bà gặp anh Niệm, anh Niệm hỏi: "Dì có biết nhà anh Bích hổm rày thường cầu cơ, có mối Đạo Cao Đài mới mở? Đức Thượng Đế thường giáng cơ dạy Đạo rất linh." Bà Trình nói: "Tôi biết mà chưa đi được, kỳ này thầy Hai có đi cho tôi hay, tôi đi hầu cho biết." Anh Niệm nói: "Kỳ Đàn này lập tại nhà tôi." Bà Trình nói:"Ngày đó tôi qua hầu."

_ Đêm đó Đức Thượng Đế giáng cơ cho hai người hai bài thi:

Thi cho THƠM:

Khắp trong Trời đất Đạo bao la,

Đạo ở nơi tâm hỏi lại ta.

Non thẳm, rừng sâu chưa phải Đạo.

Đắc thành do một chữ Tâm mà.



Thi cho Lượng:

Lượng trên xem biết thạnh suy thời.

Thước mực tay cầm dạ chớ lơi!

Nguyệt xế, canh tàn lòng sáng tỏ.

Ngựa qua cữa sổ hạc chầu Trời.

- Khi bãi Đàn, ông Hội Đồng Thơm vui mừng vì Thượng Đế cho bài thi trúng trong tâm lý của mình nên chắc là Đức Thượng Đế giáng phàm. Rồi ngó lại thấy ông Phủ Lượng có sắc buồn. Chừng ra về ông mới hỏi Phủ Lượng rằng: "Mình đi hầu Đàn đêm nay chẳng biết ý anh sao? Chớ tôi tin chắc có Đức Thượng Đế, mà vì cớ nào thấy anh có vẻ buồn?" Ông Phủ Lượng nói: "Tôi cũng tin thiệt nên mới buồn. Vì cho bài thi trúng trong sở hành của tôi lắm nhưng không thể nói ra được."

- Qua ngày thứ bảy ông Hội Đồng Thơm về Cần Thơ. Ở nhà bà Hội Đồng qua nhà anh Niệm đặng hầu Đàn cũng vào chiều thứ bảy. Kế ông Thơm về hỏi: "Bà đâu?" Người ở nói:"Bà đi hầu Đàn bên nhà ông Hai Niệm." Chừng bà đi hầu Đàn về, ông Hội Đồng vui vẻ nói: "Tôi đi kỳ này có gặp ông Phủ Chiêu, ông có cho tôi phò loan, Đức Thượng Đế về có cho tôi một bài thi hay lắm, đúng trong tâm lý mình". Rồi ông Thơm tường thuật trong khi ba người mới đến gõ cữa thì ông ở trong nhà chưa thấy mặt mà nói trúng hết trong tâm mình muốn làm gì. Rồi đem bài thi đọc cho bà nghe. Bà nói: "Linh lắm! Tôi hầu Đàn Đức Thượng Đế cũng có cho mình một bài thi nữa đây:

THI:

Mừng người nay gặp hội Chiêu kỳ !

Võ lược ba vườn đủ lễ nghi.

Văn chất năm pho khuyên lũ trẻ.

Khuyên người mau vịnh Đạo Vô Vi."

- Đọc bài thi rồi hai ông bà tin tưởng lắm nhưng không hiểu rõ ý nghĩa trong bài thi. Đến vài năm sau ông Thơm mới cất được cái trường học Võ Văn để mướn Giáo Sư dạy học. Chừng đó mới biết Đức Thượng Đế tiên tri trước.

6)- ĐỘ ÔNG CẢ NHỰT:

Nhắc lại hai người con gái của ông Cả Nhựt nghĩ vì mình tu nay cũng lâu rồi nên thưa với cha xin thờ Đức Thượng Đế. Ông Cả nói: "Trong nhà có thờ Hội Đồng Tam Giáo, trong đó có hình đức Thượng Đế rồi, còn hai bên lại thờ Quan Thánh, Quan Âm cũng đủ. Nay lại muốn thờ tượng một mắt, tao không chịu đâu."

- Nghe ông nói vậy nên hai người con không dám nói nữa. Nhưng nhà của ông có nhiều và rộng nên hai người lén đem về thờ, vì hai người ở riêng phía bên chái. Thờ cả năm mà ông Cả không hay.

- Một ngày nọ, chị tư Huế suy nghĩ rồi nói với em rằng: "Vì trong bổn Đạo ai ai cũng có cầu cơ tại nhà. Vậy nay mình mời ít người thân thuộc đến nhà cầu cơ một lần, em nghĩ sao?"

- Chị Sáu Huê nói: "Cha không chịu mà cầu lén như vậy, cha hay la rầy thì té ra mình vô tình làm cho cha thất lễ với Bề Trên."

- Người chị nói: "Cha ngủ nhà dưới, mình có ít người đâu có lớn tiếng. Cho người coi chừng thì thôi.". Người em nghe chị nói vậy ý cũng muốn nên không cãi nữa, tối đến lập Đàn.

- Khi lập Đàn thì hai chị em có kêu một người hầu trong nhà dặn: "Ông có lên thì cho hay."

- Đêm đó Đức Quan Thánh giáng cơ. Ở dưới ông Cả đương ngủ mà chiêm bao thấy một người áo đỏ kêu nói: "Sao không lên lạy Thầy?"- Ông Cả giựt mình thức dậy nghe nhà trên có tiếng khua động, ông liền nhẹ bước đi lên. Còn người gác lo nhìn cơ chuyển nên quên canh chừng ở dưới. Đến khi ông Cả lên tới nơi, người gác mới giựt mình kêu lên:"Ông lên, Ông lên."

- Ông Cả lấy tay bụm miệng bảo: "Đừng la !". Rồi ông quì xuống lạy, đức Quan Thánh cho ông Cả một bài thi:

THI:

Nhựt chiếu rạng ngời khắp bốn phương.

Đông, Tây, Nam, Bắc kiến tận tường.

Gặp Trời mở Đạo mau thức tỉnh.

Đến Hội Long Hoa sẽ tận tường.

Chú thích:

(1) Lục Nhĩ Hầu là con khỉ sáu lỗ tai.

(2) Chừng ông tỉnh nói hồi lúc đó ông đến cữa nào cũng thấy Châu Xương, Quang Bình cầm gươm đứng đón. Đến chừng kiệt sức ông nằm tại đó, ba người con gái của ông khiêng ông đem đến trước Thiên Bàn thắp đèn nhang cầu nguyện xin tội cho cha, rồi thỉnh bạch thủy cho ông uống. Khi ông tỉnh dậy thì mấy người con thuật lại chuyện và nhắc: "Hôm rồi Đức Quan Thánh nói cho Lục Nhĩ Hầu hành cha, nay thiệt như vậy. Xin cha xét lại lời của Đức Quan Thánh giải nghĩa tối qua rất nên linh hiển ! Vậy cha cũng nên thức tỉnh tu hành". Ông Cả nói: "Cha biết rồi, để có Đàn thì cha đi hầu đặng xin lỗi với Ơn Trên". Tới ngày thứ 7, ông Cả đi hầu Đàn thì Đức Quan Thánh giáng cơ. Ông Cả lạy bạch xin lỗi và nguyện từ đây ăn năn cải hối. Đức Quan Thánh khuyên ông Cả lo việc tu hành vì gặp thời kỳ ân xá, đừng để trễ cơ hội mà uổng một kiếp.

- Qua hôm sau ông Cả dọn căn nhà giữa thượng tượng thờ, cùng nói với mấy người con :"Cha cho các con cứ việc tu hành và độ trong tá điền tu với mình".

7) DỜI ĐÀN VỀ NHÀ ANH TƯ HUỲNH:

Trong thời kỳ đó, tại tỉnh Cần Thơ mỗi ngày người ta vô Đạo vô số. Nhà anh Bích bổn đạo ra vào không ngớt. Rồi nhà cầm quyền Pháp hay tin cho lính dòm ngó. Bây giờ anh Bích lại lo sợ. Vì nguyên cớ trước đây đôi năm anh Bích có đi sang Nhật Bổn. Chừng về thì nhà nước Pháp nói anh làm Cách Mạng nên bắt giam, may nhờ Nhật Hoàng xin mới khỏi. Vì có vết đó nên anh Bích mới sợ. Thấy vậy nên anh Niệm nói: "Vậy thôi để tôi thỉnh Đàn đem về nhà tôi rồi sẽ tính". Từ đây lập Đàn tại nhà anh Niệm được ít lâu. Sau đó anh Nguyễn Văn Huỳnh cất cái lầu hai tầng, anh hiến tầng trên để làm cái Đàn luôn. Kể từ hôm ấy Đàn dời về nhà anh Huỳnh được gọi là Chiếu Minh Đàn (cũ) Cần Thơ.

- QUAN PHỦ XUỐNG CẦN THƠ LẦN THỨ NHỨT(14).

_ Xin nhắc lại, anh Nguyễn Văn Huỳnh nghe anh Quí nói :"Quan Phủ Chiêu là người mở Đạo tại Sài Gòn". Anh Huỳnh dự định có cơ hội lên tìm cho biết. Vừa cất cái Đài lại nghe người ta nói nữa rằng ông Phủ Chiêu là bực chơn tu trong thiên hạ không dễ có, ông tu hạnh tốt, thần lực đủ đầy, mặt mày sáng rỡ, bụng bự, răng đều coi như ông Phật Di Lặc. Anh nghe có lòng sở mộ nên dự định sẽ đi tìm Ngài.

_ Quan Phủ ở Sài Gòn xuống Cần Thơ nhằm ngày 16 tháng 03 Đinh Mão (Năm Đạo thứ 7). Ngài ghé ngay vào nhà, Anh Huỳnh chào hỏi chớ không biết là ai. Ngài giới thiệu: "Tôi là Phủ Chiêu, 'Ông ở trển ' sai tôi xuống chớ không phải tự tôi đi."

- Nghe lời giới thiệu của Ngài, ông Huỳnh thỉnh Ngài ngồi, rồi anh Huỳnh thưa cùng với Ngài: "Tôi nay được gặp Quan Lớn thiệt lòng mừng chẳng xiết, xin thưa Quan Lớn rõ: Tôi từ nhỏ đến lớn chưa vào Đạo nào, còn vợ tôi thì có Đạo Phật. Nay tôi cũng lớn tuổi muốn tìm Đạo chánh mà tu thân, may mắn gặp được anh Quí xuống nhà anh Bích nói Quan Lớn sai đi truyền bá mối Đạo và có cầu cơ. Tôi với vợ tôi có đến hầu Đàn thì Đức Thượng Đế có kêu tên và dạy tu hành, lời lẽ nghe rất chánh lý. Nên tôi tin tưởng mới cất cái lầu này để tầng trên cầu cơ cho tinh khiết. - Hôm rồi thỉnh Đàn về đến nay cầu cơ được vài lần rồi và tôi tính ít ngày đây sẽ đi tìm Quan Lớn mà chưa kịp đi. Nay Quan Lớn xuống thiệt là Thiên Tùng Nhơn Nguyện. Vậy xin Quan Lớn chỉ dạy cho chúng tôi rõ biết gốc tích của mối Đạo!"

_ Ngài trả lời :"Gốc Đạo ở nơi Đức Thượng Đế. Còn tôi trước cũng mộ tu hành mà chưa chọn được Đạo nào cho vừa ý. Mãi đến năm Tân Dậu (1921), khi ra trấn nhậm ở Phú Quốc thì thường lên núi Dương Đông cầu cơ mới được Đức Thượng Đế giáng cơ dạy Đạo và truyền trao bí pháp, cho thấy cảnh Bồng Lai, với Thiên Nhãn cùng dạy cách thờ. Nay mới được lịnh Đức Thượng Đế dạy tôi đem mối Đạo mở ra cho chúng sanh tu hành cho kịp hội.

_ Vì nay là buổi Hạ Nguơn, luật tuần huờn gần giáp mối, màn tiêu diệt sắp khởi hành, Đức Thượng Đế không nỡ bỏ người lành mới hội Tam Giáo Cộng Đồng định kỳ ba mở nền Đại Đạo tại nước Việt Nam. Vậy nên mối Đạo mà có ngày nay là nhờ lòng bác ái, từ bi của Đức Thượng Đế. Thấy tất cả nhơn sanh ở khắp ngũ châu tu thì nhiều mà thành không đặng, mới cảm động đến Bề Trên mở Tam Kỳ Phổ Độ. Vì nước Nam hiện nay có nhiều bực Nguyên Căn trước ở khắp Ngũ Châu có nhiều kiếp tu theo Tam Giáo mà chưa thành, nay chuyển về nước Việt Nam gọi là Tam Kỳ Lonh Hoa Hội, tu trong một kiếp thì thành. Giờ đã đến thời kỳ nên "Ông ở trển" chuyển tôi xuống đây nói giùm cho. Các đạo hữu ráng tu cũng như hoa sen đua nở, vì hữu phước gặp kỳ Đạo mới mở chơn pháp còn nguyên, đã dễ tu mà lại dễ thành. Nếu không tu thì chịu chớ đừng chối. Đến ngày thưởng phạt có tôi đứng sau lưng ông Cao Đài."

- Anh Huỳnh nói: "Thưa Quan Lớn từ bi giải cho chúng mà chúng tôi chẳng biết phải hay không?"

_Vậy Đạo nào cũng do gốc nơi Thượng Đế mà ra, chớ nói Phật lớn hơn Trời là điều trái ngược. Đạo Tiên hay Đạo Phật cũng vậy: Đạo Phật thì lấy Tam Qui, Ngũ Giới làm đề. Còn Tiên Đạo thì lấy Tam Bửu, Ngũ Hành làm bổn.

Tuy lời nói hơi khác nhau chớ nghĩa lý có một. Thương thay cho người thế tục, tánh hay nhỏ mọn thấp cao vào tu thì qui luật Đạo không chịu khép mình mà cứ tranh lớn nhỏ !

_Còn hiện nay đề hiệu là Cao Đài thì nghĩa lý như vầy:

CAO ĐÀI LÀ CAO THẬM THÂM CHÍ Ư NHỨT KHÍ THÁI HƯ;

ĐÀI LÀ BỬU SẮC QUANG ĐÀI,

chờ đến Hội Long Hoa sẽ thấy rõ.

Còn Đại Đạo có nghĩa là:

Thiên Đạo là con đường chánh, cũng như nói Nhơn Đạo là lẽ phải vậy.

Còn chữ ĐẠI ĐẠO là con đường lớn, lớn giáp bầu Trời,ở trong Trời Đất cũng phải tùng đường Đạo, Thiên Đạo, hoặc Nhơn Đạo. Chữ ĐẠI thêm nghĩa như vầy:

Trước khi là chữ Nhơn ,nhơn là người,người ngộ được Đạo chánh là thêm một, một là Nhứt . Chữ Nhơn mà thêm Nhứt là Đại . Nhứt là Nhứt Dương Chi Khí. Người tu luyện đắc nhứt khí thuần dương thì thành Tiên Phật. Cũng như nói người Đại Nhơn thì đức tánh rộng rãi, ôn hòa, khoan dung, đại độ.

- Nay Đạo mở ra có một gốc chớ sau này còn chia ra nhiều nhánh. Nhưng có hai cơ là: Đại Thừa và Tiểu Thừa mà thôi.

- Các đạo hữu tu theo tôi đây thuộc về Cao Đài Đại Đạo Chiếu Minh Tam Thanh là lý Đạo. Đề hiệu là Chiếu Minh Đàn. Còn việc Đạo thì không thể nói một lần cho hết được.". Tối đến lập Đàn nhằm đêm 17-03 năm Đinh Mão tại nhà anh Huỳnh. Đức Thượng Đế giáng cơ có khuyên Ngài:

THI:

Mối Đạo gầy nên vốn bỡi con.

Trước sau,sau trước gắng công tròn!

Tuy nay tứ đệ đồ nơi tệ.

Con học lòng Tiên sửa lại còn./.

Thầy rất vui mừng cho các con từ đây gặp đại thuyền. Vậy các con nam nữ ráng nỗ lực lo tu, trên có Thầy độ. Bãi Đàn, Anh Nguyễn Thiện Niệm thưa với Quan Phủ xin học Đạo, Quan Phủ nhìn anh Niệm rồi nói: "Hay! Đại Căn mà cũng sớm tỉnh, nếu chậm chút sẽ trễ đò.". Rồi Ngài truyền Đạo cho anh Niệm. Ngài nói: "Học Đạo điều luyện chắc thành nhưng phải luyện lấy chữ KHÔNG cho tuyệt đối thì mới thấu chỗ nhiệm mầu. Vậy chẳng khá bỏ chữ KHÔNG, nắm được chữ KHÔNG thì nơi lòng sẽ có. Người dốt cứ gìn chỗ có, rồi mãn kiếp hóa không. Hai lẽ có, không ; người hữu căn thì chọn lấy!"- Hôm sau Quan Phủ về Sài Gòn.

_ Tại Cần Thơ người ta vô Đạo càng ngày càng đông. Anh Huỳnh và vợ là chị Nguyễn Thị Hường vui lòng hộ Đạo.

Cũng tại Cần Thơ có anh Lưu Văng Sang, tên ngoài người ta thường gọi là Tám Tỵ, (anh em bạn rể với anh Huỳnh). Vợ là chị Nguyễn Thị Huệ thấy nhà của anh chị mình có lập được cái Đàn, mà hiện nay nhơn sanh đến tu cũng nhiều, anh chị suy nghĩ: "Nhà mình gần đây phải chia sớt đằng mình đặng lập công với Đạo". Anh Sang nói: "Để có dịp rồi sẽ tính."

- LÝ ĐẠI TIÊN GIẢI NGHĨA CHỮ CHIẾU MINH ĐÀN (15)

_ Ngày mùng 01 tháng 04 năm Đinh Mão (01/05/1927). Năm Đạo thứ 7.

Đàn tại nhà anh Huỳnh hay Chiếu Minh Đàn (cũ) Cần Thơ:

Bần Đạo chào chư hiền nam nữ ! Chư hiền an tọa tịnh tâm nghe Bần Đạo minh về lý Đạo.

THI:

LÝ Đạo ngày nay đã đến rồi.

ĐẠI Thừa rộng mở độ cao ngôi.

TIÊN truyền chánh pháp tua noi dấu.

GIẢI đất Nam Bang sắp phục hồi.

NGHĨA lý Đạo mầu cần kiếm hiểu.

CHIẾU soi khắp cả lý cao siêu.

MINH tâm tỉnh ngộ lo tu luyện.

ĐÀN Đạo khá gìn các sĩ ôi !

_ LÝ ĐẠI TIÊN GIẢI NGHĨA CHỮ CHIẾU MINH ĐÀN.

Lão rất vui mừng cho tất cả nguyên sanh có đại căn hữu kiếp gặp đấng Thầy Trời thả linh thuyền chực rước. Vậy ráng nỗ lực cần tu, chư hiền thấy đề hiệu là: Chiếu Minh Đàn mà không rõ lý, nên chẳng ham tu. Để Lão giải nghĩa cho hiểu mà nung chí tu hành. Ba chữ Chiếu Minh Đàn có cái nghĩa như vầy:

Chữ CHIẾU : Chữ Chiếu nghĩa là chói rạng khắp nơi, còn lý nhựt bằng là chữ Triệu là Thái Dương lố ra thâu gồm bốn chấm tượng trưng là Tứ Đại Bộ Châu. Nghĩa là tứ phương qui nhứt. Tứ Đại Bộ Châu là: Đông Thắng Thần Châu, Tây Ngưu Hóa Châu, Bắc Câu Lư Châu, Nam Thiệm Bộ Châu.

_Chữ MINH : Nhựt tả ,Nguyệt hữu. Nghĩa là âm dương hiệp nhứt. Mà âm dương hiệp nhứt thì phát khởi Càn Khôn ,bảo tồn nhơn vật trong Vũ Trụ.

_ Chữ ĐÀN : Thổ tả, Huyền hữu. Nghĩa Thổ là đất, Huyền là đen. Thích lý chốn hồng trần mù mịt nhờ Nhựt ,Nguyệt quang minh.

_ Ngày sau nên cuộc tu hành cũng bỡi ba chữ CHIẾU MINH ĐÀN. Lão kiếu...

- QUAN PHỦ XUỐNG CẦN THƠ PHÂN ĐÀN CHÁNH ,ĐÀN THỨ (16)

- Một ngày nọ, nơi nhà anh Huỳnh có đám giỗ. Anh mời trong bổn đạo đến thiết Đàn cầu siêu cho song thân của anh. Rồi cũng thình lình có Quan Lớn đến, tất cả đều mừng, thỉnh Ngài vào trong.

_ Anh Huỳnh nghĩ rằng: "Thuở xưa như ông Thái Tử Sĩ Đạt Ta chán đời tầm Đạo, rồi lập nên nền Phật Đạo thì Ngài làm Giáo Chủ. Người đời thường gọi là Đức Thế Tôn. Các bực hòa thượng họ kêu bằng Tôn Sư. Nay Quan Phủ thọ sắc chỉ nơi Đức Thượng Đế mở Đạo Cao Đài thì ông là Giáo Chủ chớ ai ! Vậy mình kêu bằng Thầy còn chưa xứng với cái chức vụ cứu thế".

_ Nghĩ vậy làm liền, anh Huỳnh đứng dậy chắp tay nói: "Bạch Thầy, hôm nay là ngày cầu siêu cho song thân tôi mà tôi không dám mời Thầy. Nay sẵn dịp Thầy đến xin chứng Đàn cho!"

_ Ngài nói: "Công cuộc của anh làm đây là theo thế thường người ta không biết, lầm tưởng là xuất tiền làm cho lớn là hiếu, rước nhiều hòa thượng cầu là siêu.

_ Hiếu là làm con tu cho đắc Đạo thành chánh quả mới cứu được Cửu Huyền Thất Tổ khỏi đọa Địa Ngục là đại hiếu. Còn cầu siêu là xuất tiền của ra bố thí, cất chùa cho người ta tu, làm điều có ích cho xã hội. Vì biết đâu ông bà cha mẹ lúc sanh tiền vay mượn của người mà chưa kịp trả, rồi chết cũng còn sát sanh hại vật mà phải mắc tội trả đền.

Nay con cháu biết ơn ông bà cha mẹ, nếu muốn làm việc gì mà cầu phúc cho cha mẹ thì phải nói cho rành, thiếu gì việc làm phước: Như bắt cầu bồi lộ, mãi vật phóng sanh, người đau thí thuốc, không của thì công, làm được nhiều thì ông bà cha mẹ hết tội sẽ siêu. Còn nếu con cháu tu hành được thành chánh quả thì luật Trời ân tứ cho chung hưởng chốn Thiên Đường.

_ Chớ cúng quảy cho lớn mà không tu, cứ làm điều tội lỗi bất lương rồi rốt cuộc ai cũng vào Địa Ngục. Chừng mãn tội, kẻ đầu thai một đường, ai chẳng biết ai, lại còn cấu xé. Nếu chẳng lo tu cứ cầu mà siêu thì nhà giàu có lo tu làm chi, để ăn chơi cho thong thả, làm đầy tội ác ; chừng chết mướn nhiều thầy tụng kinh thì siêu. Nếu vậy thì luật công bình của Tạo Hóa ở đâu?

_ Cúng quảy là ngày kỷ niệm để tỏ lòng hiếu kỉnh, không quên nhờ đâu mà có mình đây, cùng nhắc nhở cho con cháu biết cây có cội nước có nguồn là vậy. Thương cha mẹ một khi đã từ trần rồi thì phát nguyện tu hành trường chay giữ giới là quí hơn hết.

_ Còn các đạo hữu vì chỗ kỉnh mà kêu tôi bằng Thầy, tôi không dám chịu. Các đạo hữu coi kìa cái gương thanh hạnh nhã của Đức Thượng Đế là một Đấng Chí Tôn còn hạ mình xuống thế, lấy đức khiêm cung xưng Thầy đặng dạy chúng ta, kêu mình là các con. Cái thể lệ xưa khác hơn cái thức lệ ngày nay: Xưa gọi là dạy Đạo với học Đạo, mới xưng là thầy trò. Còn nay các đạo hữu nào muốn tu thì trước phải xin keo với Đức Thượng Đế, ông cho thì tôi mới dám chỉ cho tu. Chớ tôi không muốn làm thầy ai, đạo hữu đừng đem tôi mà bì với ai hết!

Trong bổn đạo có thương tôi thì nghe lời giảng giải ráng làm theo thì được phước, ai giữ đúng pháp luật Đạo tránh khỏi đọa đày là cách đền ơn cho tôi đó.

_ Về việc Đạo cũng ví như chốn học đường, phải chia ra nhiều trường giáo hóa, rồi tùy theo tài học của học trò mà phân thứ lớp. Vậy thì tại nhà anh Huỳnh đây để làm Đàn Chánh riêng cho người tu vào bực Thượng Thừa là tu siêu thoát.

_ Nơi nhà cậu Tám Tỵ, tôi chứng cho để làm Đàn Thứ dành riêng cho người mới tu ở vào bực Tiểu Thừa. Bực Tiểu Thừa hành cho đúng cũng tốt vậy, nam thì giữ lòng đạo đức : Trung, Hiếu, Nghĩa, Nhân ; Nữ thì gìn câu : Trinh Tiết, Hạnh hiền hậu, ôn hòa.

_ Nam nữ phải hành y luật Đạo là trước hành theo Cảm Ứng, sau học đến chỗ điều luyện Tam Nguơn, gìn lòng bác ái, nhẫn nại, khiêm cung, luật tùng chánh pháp. Chớ làm nghề sát sanh mà sống! Vì Trời cầm luật công bình trả vay không sót. Thiếu chi việc làm ăn, ráng tạo nhiều phước đức, nghề nào làm cũng khá được.

_ Mới tu ở Tiểu Thừa chay lạc, lục, thập tùy ý. Song cũng phải giữ cho đúng. Nếu có căn rồi cũng lần lần lên đến bực Thượng Thừa.

_ Cậu Tám Tỵ với mợ Tám cứ làm công quả, khỏi lo, cũng không mất vị phần.

_ Vậy luôn đây tôi nói cho biết hầu sau nói lại kẻo lầm : làm Chủ Đàn cũng như chủ chùa, hay là người truyền giáo trách nhiệm ví như lãnh chiếc đò rước khách thì phải dùng đức đặng vượt thuyền tới chỗ mà lãnh công. Đừng dụng quyền mà khan thỉ là điều đáng tiếc !"

TÁM TỴ LẬP ĐÀN THỨ TẠI CẦN THƠ(17)

_ Trong thời kỳ đó, anh Tỵ là một người cứng cỏi ở Cần Thơ ai cũng biết danh. Đến chừng anh tu thì ai cũng lấy làm lạ. Khi được lịnh Quan Phủ cho anh cất cái Đàn Thứ lên rồi thì bổn đạo đông lắm. Bỡi lính, làng đều biết anh nên không ai dám làm khó dễ. Nhờ vậy mà cơ Đạo lối này sung túc lắm, anh Tỵ hộ Đạo tốn hao chẳng nệ. Ai tu thiếu món chi anh chị sẵn lòng giúp đủ, như: lễ phục, tiền bạc.../

TƯ HUỲNH PHÁT NGUYỆN TRƯỜNG CHAY & CHỊ HƯỜNG HỌC ĐẠO (18)

_ Nói về anh Nguyễn Văn Huỳnh nghe Quan Phủ giải lý cầu siêu và cúng giỗ lớn, không bằng trì chay giữ giới. Chừng Quan Phủ về Sài Gòn rồi thì tại Cần Thơ, anh Huỳnh nguyện trường chay trọn đời và cầu xin với Thượng Đế cho vong linh cha mẹ được siêu thăng.

_ Cách ít lâu song thân của anh Huỳnh được về cơ khuyên anh ráng lo tu. Chị Nguyễn Thị Hường thấy vậy cũng nguyện trường chay, qua năm sau cũng lên Sài Gòn cầu học Đạo. Chị nghĩ mình muốn tu thì mình phải đi đến tìm Thầy, chớ nếu đợi Quan Phủ xuống tới nhà của mình rồi mới học rồi không đúng. Nghĩ vậy nên chị mới lên Sài Gòn. Chị lên nhằm giờ Ngọ, Ngài đương công phu, chị đợi đến đồng hồ gõ một giờ mà Ngài không ra. Chị hiểu ý tại mình sắp tính ở dưới, chắc trên này ông biết nên không ra. Vậy mình phải đi cho tới, chị liền mặt khăn áo vô trước Thiên Bàn làm lễ Đức Chí Tôn rồi day lại xá Quan Phủ thì Ngài nói liền: "Mới bốn mươi mốt tuổi mà giàu có, sao không để hưởng mà đòi tu chi cho khổ hạnh?"

_ Chị Hường: "Thưa Quan Lớn, tôi nay đã thức tỉnh nên quyết tu."

_ Ngài nói: "Phải tỉnh thì tu mới được, chớ mê mà tu nỗi gì ! Mà hai tiếng Thức Tỉnh cắt nghĩa cho rõ coi tỉnh thiệt hay mơ màng ? Nghe người ta nói rồi nháy theo, chừng tu gặp khảo rồi bỏ."

_ Chị Hường chậm rãi thưa rằng:"Tiếng thức là sự thật, bỡi tâm tôi không còn ham vật chất, tiền của, ruộng vườn, tuy có đó mà không cho là quí. Vì của tiền không làm cho mình khỏi luân hồi nên tôi không mê gọi là Thức. Còn chữ Tỉnh là tôi xét thấy trong phần nữ lưu : công cha, nghĩa mẹ cực nhọc biết bao, lời ví bằng sông núi. Chừng lớn lên vừa nhờ được thì đến ngày xuất giá, chịu khổ mãn kiếp với chữ Tam Tùng, rồi tới khổ mang chín tháng, ngày sanh thì thân mình thấy chết, biết bao cực nhọc. Nuôi con đến lớn, nối họ bên chồng. Nếu gặp con bất hiếu thì thân mình cũng cơ khổ, chừng chết nhờ cậy xóm giềng. Thấy vậy mà muốn tu, cuộc đời quyết bỏ."

_ Quan Phủ nói: "Tỉnh thiệt ! Vậy thì số một, cũng xứng làm gương cho phái nữ."

_ Ngài cho chị Hường lập thệ liền trước Thiên Bàn, rồi Ngài truyền Đạo và cho pháp danh là Minh Hồng. Ngài nói tiếp:"Tu thì cứ tu chớ đừng đòi liễu sớm nghe !"

_ Chị Minh Hồng :"Thưa Quan Lớn, tu chừng thành Đạo rồi về, chớ ở cõi này chi cho lâu?"

_ Ngài nói: "Ở làm thầu khoán chớ chi !"(1).

_ Chị Minh Hồng không biết Ngài nói ý gì nên làm thinh. Chị ở đó tu với Ngài đến nửa tháng cho nhuần nhã rồi mới xin phép Ngài về Cần thơ./.

Chú Thích:

(1) Sau này khi chị Hồng cất Thảo Lư thì mới nhớ lời tiên tri của Quan Phủ ngày trước.



TIỂU SỬ HÀNH ĐẠO ĐỨC NGÔI HAI (Phần III).

- QUAN PHỦ TRUYỀN ĐẠO TẠI SÀI GÒN (19)

_ Quan Phủ chỉ Đạo cho chị Minh Hồng rồi, thì ít lâu sau các nơi đều nghe tiếng đồn ông Phủ Chiêu có mở mối Đạo Cao Đài chỉ dùng cơ bút cầu Tiên xuống dạy Đạo, lời lẽ rất chơn thường, chẳng nói cao xa, phú thi tao nhã, lời dạy đã dễ nghe mà mau hiểu và ông có biệt lập một cơ Đại Thừa Vô Vi Chơn Giáo gọi là Chiếu Minh Tam Thanh để độ bực Nguyên Căn chán đời tầm tu siêu thoát. Nghe vậy nên lần lượt những Nguyên Nhân tìm đến Ngài học Đạo 道。

- TRUYỀN ĐẠO CHO BÀ TRÌNH (20)

_ Từ khi được gặp Quan Phủ Chiêu và Đức Thượng Đế cho hai bài thi thì hai ông bà Hội Đồng Quảng Hạt Võ Văn Thơm có lòng sở mộ việc tu hành nhưng việc gia đình sắp đặt chưa xong. Ông là Hội Đồng đương niên còn bà thì một tay lo việc gia đình, con đông nhưng còn nhỏ, ruộng đất cũng nhiều. Mà lòng bà rất mộ Đạo nên có tỏ ý với chồng rằng muốn tu nhưng ông làm thinh, cho hay không cũng chưa biết.

_ Nghe tin Quan Phủ xuống Đàn Chánh ,ông Thơm liền kêu nói: "Bà muốn tu nay sẵn Quan Lớn xuống thì đi cầu học Đạo mà tu."

_ Bà mừng quá đi liền, chừng tới Đàn Chánh thấy Quan Phủ ngồi ,bà cuối đầu chào thì Ngài nói liền: "Chị Thơm nay được tu rồi, "Ông ở trển" nói chị tới thời kỳ tu, biểu tôi xuống nói cho hay. Vậy về sửa soạn rồi tôi chỉ cho tu."

_ Chừng đó bà mới giựt mình, mừng mà chưa dám dạ vì không biết ông nói vậy mà thiệt hay không? Trong lòng bối rối, nướt mắt tuôn tràn, đang suy nghĩ thì Ngài tiếp nói: "Ông Thơm là người quân tử, nói cho thì không sao đâu. Ở với ổng hai mươi năm đủ rồi. Về sửa soạn chỗ sạch sẽ để làm cái đơn phòng, mai tôi điểm Đạo cho tu."

_ Chừng bà ra về vừa đi vừa tính, từ lúc ông cưới bà đến nay đúng hai mươi năm, không dư một ngày. Khi về đến nhà bà thuật lại tự sự cho ông hay, ông lấy làm cảm phục. Rồi tự trách mình ăn chay không đặng là sao mà tu!

_ Hôm sau Quan Phủ đến nhà, ông Thơm chào mừng. Bà Trình nói: "Thưa Quan Lớn ! tôi đã sửa soạn trong đơn phòng sạch sẽ rồi."

_ Ngài nói :"Chị vô ngồi đi !"

_ Bà Trình vô phòng ngồi thì Quan Phủ bước vô nói: "Hồi hôm thấy sao bây giờ làm y vậy."

_ Bà chưng hửng thì Ngài nói tiếp:"Hồi hôm chiêm bao thấy sao thì làm y như vậy."

_ Bà sựt nhớ tối qua có chiêm bao. Đang ngủ mà ngồi dậy hai lần, bà liền sửa bộ ngồi làm giống như hồi hôm chiêm bao thấy vậy.

_ Nói xong Quan Phủ bước ra sau lưng của bà chừng hai phút đồng hồ, Ngài nói: "Cứ làm y như vậy chớ đừng sửa, sửa sái chịu. Bỡi chị là học trò của bà Cửu Thiên, bà Cửu Thiên dạy hồi hôm rồi mượn tôi chứng giùm."

_ Sau đó Quan Phủ bước ra, ông Thơm mời ngồi thì Ngài nói: "Anh Thơm khỏi tu cũng đặng ông Cao Đài độ cho. Ráng làm công quả, tôi cũng chứng cho người tu bằng Thượng Thừa vậy. Chừng anh qui liễu có tôi về rước."

SỰ TÍCH THỜ QUAN PHỦ NGÔ VĂN CHIÊU (21)

_ Sau đó Ngài từ giã trở qua Đàn Chánh. Về đến Đàn Chánh, Ngài đi tuốt lên lầu, kéo ghế ra giữa chánh điện mà ngồi. Anh Huỳnh thấy cũng lạ mà không dám hỏi, anh lo sửa soạn trên Thiên Bàn. Chừng anh sắp đĩa trái cây xong, anh bưng lên Thiên Bàn để cúng thì Ngài kêu nói: "Anh đem dĩa trái cây đây !"

_ Anh Huỳnh liền đem lại cho Ngài, Ngài bẻ một trái chuối ăn rồi nói:"Thôi đem để lên đi ! Đừng bắt chước mà bị đọa."

_ Anh Huỳnh thấy vậy lòng mừng đoán chắc Quan Phủ là ông Cao Đài chớ ai ! Và nhớ Ngài ngâm câu:"Cao Đài ứng hóa theo lòng chúng sanh, đố ai có biết danh ông Cao Đài?".

Từ đây anh Huỳnh tin tưởng, kỉnh trọng và triều mến Quan Phủ lắm. Qua ngày sau Quan Phủ về Sài Gòn.

_ Kế đó ông Đốc Thượng đến Đàn Chánh chơi, sẵn dịp hỏi anh Huỳnh: "Quan Lớn có dạy gì không?"

_ Anh Huỳnh thuật chuyện Quan Phủ làm hôm trước cho ông Đốc Thượng nghe, rồi ông Đốc Thượng nói: "Như thuở xưa, đức Khổng Tử mở Đạo Nho thì Ngài là Thánh Giáo Chủ, đức Lão Tử khai Đạo tại Trung Hoa thì Ngài làm Giáo Chủ Đạo Tiên, đức Sĩ Đạt Ta khai Đạo tại Thiên Trước thì ông là Phật Giáo Chủ, mà người đời còn gọi là Phật Thích Ca. Nay Quan Phủ mở Đạo Cao Đài thì Ngài là ông Cao Đài chớ ai !"

_ Chừng ông Đốc Thượng về nhà liền đem hình Quan Phủ lên Thiên Bàn mà thờ. Bỡi từ khi mở Đạo đến chừng đó thì trên Thiên Bàn về Thánh Tượng chỉ thờ là: Trên hết là Thiên Nhãn,kế là Thập Tự Tam Thanh. Đến chừng ông Đốc Thượng hiểu ý mới để hình Quan Phủ lên mà thờ nữa, chớ Ngài không có dạy thờ Ngài. Chính anh Huỳnh gọi Ngài bằng Thầy mà Ngài còn không cho. Nhưng đây chỉ có một mình ông Đốc Thượng thờ mà thôi.

_ Một ngày nọ, ông Đốc Kỷ đến nhà ông Đốc Thượng chơi, nhìn thấy ông Đốc Thượng để hình Quan Phủ lên Thiên Bàn mà thờ. Người mới nói thầm trong lòng: "Quan Phủ còn sống mà thờ, bộ trù Quan Phủ sao?". Nên ít lâu ông Đốc Kỷ có dịp đi Sài Gòn thăm Quan Phủ. Sẵn lúc đó có bổn đạo cũng đông, ông đem việc ông Đốc Thượng thờ Quan Phủ mà ý nói cũng như mách khéo. Nhưng Quan Phủ không nói chi hết.

_ Trong bổn đạo thấy vậy nên khi về thì ai ai cũng để hình Quan Phủ lên Thiên Bàn mà thờ hết./.

TRỊ BỊNH ÔNG ĐỐC KỶ, BÀ HỌA ĐỒ PHƯỢNG & ÔNG HỘI ĐỒNG THƠM (22)

_ Nói về Quan Phủ xuống lần này làm cho trong bổn đạo được đầy đủ đức tin hơn và để kỷ niệm đời đời. Khi Quan Phủ xuống đến Cần Thơ có đi ngang qua nhà ông Đốc Kỷ, ông Đốc Kỷ hay tin sửa soạn khăn áo ra đứng trước ngó đón chào Ngài. Khi Quan Phủ đến nhà ông Đốc Kỷ, ông chắp tay vái chào: "Thưa Quan Lớn mới xuống !"

_ Ngài nói: "Tôi xuống trước lập Đàn, sau thăm các đạo hữu". Nói vậy mà Ngài nhìn ông Đốc Kỷ, Ngài thấy mặc áo dài trắng mà mặc quần đen nên Ngài mới vỗ vai hỏi ông: "Đi hầu Đàn không?"

_ Ông Đốc Kỷ trả lời: "Thưa, tôi muốn hầu Đàn mà trong mình có bịnh ngặt, vì trong Hậu Môn bất kỳ ngày giờ nào máu muốn ra thì ra,nên tôi không mặc quần trắng được, bịnh cũng lâu năm rồi thuốc men cũng nhiều, mà coi bộ càng nặng thêm. Nay trong mình chẳng khỏe,chắc tôi hầu Đàn không đặng !"

_ Quan Phủ nhìn ông Đốc Kỷ chừng một phút đồng hồ rồi nói: "Thôi vô nấu nước tắm cho sạch sẽ rồi đi hầu Đàn thì hết chớ gì !". Nói xong Ngài đi thẳng đến Đàn Chánh.

_ Ông Đốc Kỷ kêu người nhà nấu nước cho ông tắm rửa rồi đi hầu Đàn. Sau khi ông đi hầu Đàn xong thì từ đó về sau cũng y như lời Quan Phủ, ông hết bịnh luôn cho đến chết.

_ Đêm đó, hay Ngài xuống nên đến hầu Đàn rất đông. Riêng bà Họa Đồ Phượng đi phải có người dẫn, Ngài hỏi: "Bà Họa Đồ sao vậy?"

_ Bà Phượng trả lời: "Thưa Quan Lớn, tôi hai con mắt bị mù cũng lâu rồi nên nhà tôi cưới thiếp."

_ Ngài nói: "Thôi, vậy thì tu đi ! Tôi chỉ đạo cho tu ít lâu thì sáng chớ gì !"

_ Bà Phượng nói: "Thưa Quan Lớn, tôi mừng lắm ! Từ lâu tôi cũng muốn tu, ngặt vì bịnh tật nên không dám thưa với Quan Lớn. Nay Quan Lớn cho thì tôi xin cầu học Đạo" Đêm đó, chừng bãi Đàn thì Ngài chỉ Đạo cho bà Phượng. Rồi Ngài dặn cứ làm thinh tu, chớ đừng khoe khoan gì hết.

_ Hôm sau Quan Phủ về Sài Gòn.

_ Ít lâu sau ông Đốc Kỷ hết bệnh và bà Phượng hết mù. Ông Hội Đồng Thơm hay tin đến thăm, ông thấy vậy cũng mừng thầm cho hai người. Rồi nghĩ thầm lại mình, mình có bệnh Di Tinh cũng lâu mà thuốc men không hết. Ông dự tính có dịp gặp Quan Lớn thưa lại coi có dạy chi chăng ! Chừng về nhà ông nói với bà: "Ông Đốc Kỷ với bà Phượng nay thiệt hết bệnh, Quan Phủ là đấng cứu thế rõ ràng. Để có dịp gặp Quan Lớn, tôi hỏi lại căn bịnh tôi coi ông có dạy chi cho hết chăng?"

_ Bà hỏi: "Sao mấy lần trước lên ông không hỏi?"

Ông Thơm nói :"Đến tới nhà Quan Phủ thì thấy tức cười rồi quên, món gì cũng sắm có ba cái, ghế ngồi ăn, ghế ngồi ngủ, chén, ly thứ nào cũng có ba để ra đó. Giống như nhà chú chệt bán sương sáo."

_ Bà ngắt lời: "Đừng nói vậy không nên ! Biết ông làm ý gì đó."

_ Sau đó ít ngày, bà Trình đi Sài Gòn có ghé nhà thăm Quan Lớn, khi lên tới lầu bà thấy Ngài ngồi trên ghế thì bà cuối đầu chào. Ngài nói: "Chị Thơm ngồi đó đi. Nhà tôi như nhà thằng chệt bán sương sáo chớ gì ! Coi đây, thứ nào cũng có ba chớ không có được bốn."

_ Bà sực nhớ lại ông Thơm nói hồi ở nhà thì bà liền quì xuống chắp tay thưa: "Thưa Quan Lớn, vì ông Thơm không biết nên lỡ lời. Xin Quan Lớn thứ cho !"

_ Ngài cười rồi nói: "Không sao,tội lỗi gì ! Tôi nói giùm cho: ông Thơm bị bịnh Di Tinh nguy lắm, còn hơn người có đôi bạn. Chị về mua một đồng xu nước đá cục để ngay xương khu rồi niệm Nam Mô Cao Đài Tiên Ông, kéo lên ba lần vậy thì hết."

_ Bà Trình nghe qua mọc ốc vì nói ở Cần Thơ mà ở Sài Gòn Ngài cũng biết. Ngài nói thì bà vâng dạ rồi bà thưa với Ngài quày trở về chớ không dám hỏi gì nữa.

_ Khi về đến nhà bà trách ông: "Từ đây không nên nói chơi nữa. Hôm trước nói dưới này mà ở Sài Gòn ông biết hết, tôi lên tới mới ngồi thì ông nói liền làm tôi thất sắc."

_ Ông nghe qua cũng xanh mặt rồi hỏi: "Quan Lớn có quở tôi không?"

_ Bà nói: "Không, Quan Lớn nói dứt lời thì tôi liền quì xuống xin lỗi cho anh. Rồi Quan Lớn cười nói :"Tội lỗi gì ! Nói cho biết vậy thôi. Mà Quan Lớn còn dạy cách trị bịnh cho anh nữa".

_ Ông Thơm hỏi:"Thuốc gì?"

_ Bà nói lại y theo lời Ngài dạy, ông Thơm không tin nên làm thinh bỏ đi tuốt, bà thấy vậy cũng không nói nữa.

_ Chừng ít ngày sau, bệnh Di Tinh của ông trở nặng. Ông nói :"Nay bệnh cũ có nữa ,khó chịu lắm! Hôm trước Quan Lớn biểu sao đâu, làm giùm tôi chút."

Bà nói :"Hôm trước không tin, nay đến nước mới chịu."

_ Ông nói:"Thuốc thứ nào cũng có uống, tốn tiền biết bao nhiêu mà còn không hết."

_ Bà liền đi mua một đồng xu nước đá cục về làm y như lời Quan Phủ dạy. Rồi từ đó ông Thơm hết luôn không còn bệnh đó nữa. (Câu chuyện này, khi đi mua nước đá bà có kể cho người bán nước đá nghe. Về sau người này cũng bị bịnh Di Tinh, rồi người ấy cũng làm y như lời bà kể mà không hết. Người ấy đến hỏi lại bà, bà trả lời: "Đó là nhờ lời nói ông mới hết được").

- CHỊ LUÔNG LÊN SÀI GÒN HỌC ĐẠO (23)

_ Nói về chị Nguyễn Thị Luông là vợ của anh Niệm, anh tu trước, còn chị bận việc gia đình chưa tu được, ăn chay chớ chưa học Đạo. Nay sắp đặt việc gia đình đã yên mà Quan Phủ lâu xuống nên chị tính lên Sài Gòn lãnh Đạo tu hành.

_ Tối ngày 14, chị sắm hương, đăng, trà, quả. Giờ Tý cúng rồi chị cầu nguyện với Đức Thượng Đế xin keo đốt Hồng Thệ, sau đó thì chị mua vé xe đi Sài Gòn liền.

_Ở Sài Gòn,Quan Lớn kêu người Đồng Tử mở cữa ngõ sớm, mấy người trong nhà không biết Ngài làm gì. Chớ hằng ngày không khi nào Ngài cho mở cữa sớm. Mới 6h giờ sáng, chị Luông lên tới thấy cữa mở sẵn, chị đi ngay lên thấy Quan Phủ đứng trên lầu ngó xuống nói: "Bà Đầm Niệm hồi khuya đốt Hồng Thệ rồi phải không?"

_ Chị Luông tưởng Ngài rầy nên nói:"Thưa Quan Lớn ! Vì gia đình tôi không có ai nên cầu nguyện xin được rồi mới lên cho tiện."

_ Ngài nói: "Được, tới thời kỳ rồi".

- Ngày Rằm Quan Phủ chỉ Đạo cho chị Luông rồi Ngài nói: "Tu rồi đây sẽ bị nhiều lần khảo. Chừng nào cây dừa có nạn thì hết." (Bỡi vậy sau khi Quan Phủ liễu, rồi tới anh Niệm liễu. Từ đó trở về sau chị gặp nhiều lần khảo đảo do ở xóm giềng và trong gia đình. Chị Luông cũng hơi buồn và nhớ lời Quan Phủ nói nên để ý chờ cây dừa có nạn đặng hết nghiệp khảo, mà trông hoài không thấy cây dừa mọc đọt mới. Cây dừa ngày càng cao, sợ có hại cho phố xá nên chị mướn người đốn. Có 4 người lãnh đốn,chừng cây dừa ngã có một người kê vai vô đỡ lại nên bị đè, chở vô nhà thương người ấy nói: "Chị Luông bảo" rồi chết. Nhờ có mấy người đốn chung làm chứng. Vậy mà chị tốn tiền cũng khá nhiều.)...

- GẠO CỦA MINH HỒNG NẤU KHÔNG CHÍN (24)

_ Vì Quan Phủ lâu xuống Cần Thơ nên chị Minh Hồng và chị Minh Trình lên Sài Gòn thăm Quan Phủ. Ai đem món gì cho thì cũng bị Ngài la rầy, mà nhứt là chị Minh Hồng: mỗi lần đi không món này thì cũng thứ khác. Mua toàn những thứ thượng hạng chứ tầm thường thì không mua, tiền bạc đem theo thật nhiều. Trong bổn Đạo đến thăm Ngài hoặc người tới học Đạo thiếu thứ nào thì chị trả hết. Chị nghĩ vì Ngài làm quan rất thanh liêm, tiền lương có bao nhiêu, lớp trong nhà xài phí, mỗi ngày đều có khách, còn dư thì cho hết hoặc đi đường thấy kẻ đói rách, Ngài đi trước để tiền xuống đó rồi đi. Vì vậy mà Ngài làm Quan không có một miếng đất cất nhà. Thấy vậy nên chị nghĩ mình giàu có, tiền bạc lại nhiều không để làm chi. Ông rầy thì rầy ví như cha dạy con, cứ việc mua đồ ; đem lên gặp ông ở nhà thì chị gởi để ngoài, ông đi làm việc thì chị đem vô.

-.. Kỳ này chị đem mấy bao gạo lúa thơm, nhằm ngày thứ bảy Ngài đi làm việc buổi sớm mai. Chị tới sớm, mướn người vác lên lầu. Khi Ngài về, chị Minh Hồng sợ bị la nên qua nhà của anh Lê Minh Huấn ở.

_ Ngài ngồi ngoài trước nói :"Bộ tôi ưa ăn của thập phương hay là mấy người đem hối lộ cho tôi ?

Nói cho biết: ông Cao Đài cầm luật công bình, tu thì hưởng, không tu nữa rồi coi cho biết ! Một mảy không lọt. Ai đem món gì thì phải đem đi lập tức."

_ Ngài nói vậy làm cho mấy vị đạo hữu sợ xanh mặt. Quan Phủ thấy vậy không nói nữa. Khoảng 2 giờ chiều Ngài bảo: "Chiều nay nấu cơm ăn cho sớm !"

_ Mấy chị nghe nói không biết có việc gì nên đến 3 giờ đã lo nấu cơm rồi, ai nấu đồ ăn thì nấu. Chừng đồ ăn chín hết rồi mà cơm cứ sôi hoài, nhưng hột gạo vẫn còn nguyên. Nấu mãi mà không nở hột gạo ,phần sợ trễ thì bị rầy, vì ngày nào Ngài dạy nấu sớm thì có khách. Vậy nên mấy chị cứ chạy vô chạy ra canh chừng mà không thấy khách nào ; chỉ thấy Ngài ngồi trên ghế cầm cây quạt quạt hoài. Túng quá, mấy chị phải cho người qua nhà anh Huấn cho chị Minh Hồng hay. Chị Minh Hồng trả lời: "Biết mấy người nấu không chín nồi cơm, mà Quan Lớn hiện giờ ở đâu?"

_ Người ấy trả lời: "Ông ngồi đằng trước". Chị nói: "Ông ngồi đó thì ai dám về ! Thôi ra phía sau lấy ván bắt cầu tôi bò qua."

_ Mấy chị phải lấy ván bắt cầu ngang qua con hẻm độ hai thước rồi ba bốn chị vịnh cho chị Minh Hồng bò qua. Khi về tới thì chị Hồng cũng chụm lửa tiếp cái chụm lửa của mấy chị trước. Rốt cùng cơm cũng không chín nên chị đành thúc thủ rút lui bò trở lại, nếu sẩy tay thì thành Tiên sớm.

_ Còn Chị Minh Trình túng thế, bỡi tối rồi phải hấp cơm nguội, mua thêm bánh mì để ăn cho đủ bữa.

_ Chừng dọn cơm ra Ngài hỏi:"Sao không lấy gạo của chị Tư Huỳnh nấu cơm mà để ăn cơm nguội với bánh mì ?"...

-...Chị Trình thưa: "Nấu gạo của chị Tư đó, mà không chín."

_ Ngài cười nói: "Gạo chị Tư nấu không chín thì nói với chị đừng đem lên nữa."/.

_QUAN PHỦ PHÂN THÂN GIÁNG ĐÀN (25)

Đây nói tiếp theo sau khi gạo của chị Minh Hồng nấu cơm không chín rồi chừng đó mọi người mới biết là Ngài trát chơi. Mấy chị cũng ở lại đến ngày thứ hai mới về .Ngài nói:"Tôi lâu xuống Cần Thơ, để kỳ Đàn này tôi xuống ."Mấy chị dạ rồi về. Khi về đến nhà các chị nói lại cho trong bổn đạo với mấy ông hay, ai nấy cũng mừng. Chừng đến ngày 30 kẻ thì đón đường xe, người thì đón đường tàu đặng rước Ngài, mà chờ hoài đến tối mà cũng không thấy Ngài đến đành phải trở về, rồi mọi người mới bàn rằng: "Chắc Quan Phủ có việc." Tối lại lập Đàn, Bạch Hạc Đồng Tử báo tin cho hai bài thi:

THI:

BẠCH hắc từ đây đã rõ ràng.

HẠC kêu tỉnh thức khách Nam Bang.

ĐỒNG tâm nghinh tiếp Cao Tiên giáng.

TỬ đệ mừng Thầy ở thế gian.

-..BẠCH HẠC ĐỒNG TỬ. Chư sĩ rõ chăng?

Các đạo hữu bạch: Bạch, không biết ! (Cười...cười...)

THI:

Ông Thầy không biết cũng còn mê.

Cười khách trần gian chẳng rõ đề.

Hưởng trái người trồng không biết mặt.

Qua sông ai rước trở cười chê?

Ta xuất cơ nghinh tiếp...

TIẾP ĐIỄN:

THI:

CAO tột thương đời xuống thế gian.

ĐÀI truyền Đại Đạo cứu đời tàn.

NGÔ đồng gặp tiết Trời xuân nhuận.

CHIÊU hội Thiên Hoàng độ thế an.

CAO ĐÀI NGÔ CHIÊU.



TRƯỜNG THIÊN:

An nhàn của Đạo Chiếu Minh.

Luyện thành Tiên dược dứt đường tử sanh.

Cho ai có sẵn duyên lành.

Nương thoàn Bát Chánh, Ngọc Kinh đề vời.

Đời là bể khổ vơi vơi.

Tham danh luyến lợi, chiều mơi khổ sầu.

Rồi đây bể hóa ruộng dâu.

Ruộng dâu hóa bể khắp bầu Trời chinh.

Thái bình cơ Đạo Chiếu Minh.

_ Chào chư đệ,Ta kếu !

_ Thấy trong bài thi có thố lộ hai chữ NGÔ CHIÊU thì trong bổn đạo đoán chắc là Ngài xuất tánh giáng cơ nên ai nấy cũng mừng.

-...Cách ít lâu, anh Huỳnh đi Sài Gòn có ghé thăm Ngài, lên mới được nửa thang lầu thì nghe ở trên Ngài ngâm như vầy: "Đố ai biết Lão là ai? Người trong thế giới hay ngoài Càn Khôn?". Anh Huỳnh bước lên tới cuối đầu chào Ngài thì Ngài nói tiếp: "Hôm rồi mấy anh em đón tôi mà tôi xuống không ai thấy ! Sao sơ ý quá vậy?"

_ Anh Huỳnh nói: "Thưa Quan Lớn, thấy vậy chúng tôi mừng lắm và trong bổn đạo đức tin đầy đủ."

_ Ngài tiếp nói rằng: "Về cho hết trong bổn đạo gần xa hay: rằm nguơn tới đây, tôi sẽ xuống nói về việc Đạo sau này. Đạo lý thì nhiều mà tôi không tiện gần gũi các đạo hữu cho thường. Về cho hay hết, phải đến kỳ này đặng tôi nói cho biết ; phòng về sau kẻ quên người nhớ, ai còn thì nói lại."

_ Rồi anh Huỳnh về Cần Thơ đi cho hết trong bổn đạo hay Ngài sẽ xuống trong kỳ nguơn này.

_ Ngài đứng giữa trước Thiên Bàn, tay trái chỉ Trời, tay mặt chỉ Đất nói: "Quí thay ! Gặp Thiên Khai Huỳnh Đạo,Việt Nam hữu hạnh ngộ buổi sơ khai Pháp Chánh Truyền còn nguyên vẹn, luật ân xá mới ban hành, đã dễ tu mà lại dễ thành.

_ Vậy các đạo hữu đã may duyên sớm ngộ chơn truyền thì cứ ẩn lo tu trong một kiếp thì thành. Đừng bày chuyện mà trễ kỳ ân xá lại uổng kiếp sanh ! Này lời kim thạch các đạo hữu nên ghi : đến khi tôi qui vị rồi thì Đạo mở lan tràn chừng đó Cao Đài búa, Cao Đài lót đường vô số. Ai làm lem ố danh Đạo rồi coi cho biết oai ông Cao Đài ! Ăn năn đã muộn.

_ Học Đạo rồi thì khép mình trong qui luật, cứ đóng cữa tụng Huỳnh Đình thì thành chánh quả.

-...Ai tách mình qua Tây Thổ thì tên đứng bảng Phong Thần".

_ Nói rồi Ngài chỉ cái bàn mặt dài hai thước, ngang một thước, bề dày hai tấc nói rằng sổ Phong Thần sẽ lớn y như vậy. Giảng giải rồi bãi Đàn ra ngoài Ngài ngồi giữa, bổn đạo nam nữ cũng ngồi hai bên. Ngài giảng tiếp về lý Đạo, phép tu Ngài nói: "Người tu mà muốn đoạt được chỗ diệu huyền của Đạo thì trước khi mới vào học Đạo phải nhớ những lời truyền giáo một tiết cầm nhứt định không thêm bớt.

_ Khổ thay ! Thêm thì hại cho cơ thể, còn bớt thì mất chỗ hay của Đạo. Học Đạo rồi phải giữ đúng Tứ-thời công phu, đừng cho trồi sụt trong những giờ nhứt định ấy. Có điễn lành Thầy bố dương khí hóa sanh.

_ Phải phân chia ngày giờ làm ăn và tu cho lưỡng tiện. Nếu người tu mà muốn đắc thành quả đậm thì coi việc tu là chánh, việc làm ăn là phụ mà phải làm mới có ăn. Nhưng làm giản dị, chớ không làm đúng sức như hồi chưa tu."

-...Ngài giảng luận tới giờ Tý công phu rồi cúng và lập Đàn. Khi bãi Đàn, Ngài giảng thêm: "Này các đạo hữu ! Có lãnh chơn truyền bí pháp phải cẩn thận trong việc làm và lời nói cũng có quan hệ đến Đạo đơn, tổn đức thì tổn đơn, đức hóa đạo tông. Giữ đúng Cảm Ứng thì Đạo đơn bền vững, rồi cứ làm phước đức thêm cho ngôi vị rỡ ràng."

_ Rồi Ngài hỏi: "Mấy giờ rồi?". Anh Huỳnh thưa, 3 giờ."

_ Ngài nói: "Thôi, để đi trong Đàn Hiệp Minh đặng sáng về Sài Gòn."

_ Nói rồi Ngài đứng dậy xếp cái choàng để vô cặp xách xuống lầu ra đi mà không biểu ai theo hết. (Đây là tả cảnh tại Đàn Chánh xuống bến tàu về Sài Gòn và từ Đàn Chánh vô Đàn Hiệp Minh Cái Khế cho dễ hiểu: Đàn Chánh cất day cữa về hướng Đông mặt Trời mọc, từ trước cữa Đàn Chánh đi thẳng xuống bến tàu chừng bốn trăm thước. Còn từ Đàn Chánh vô Đàn Hiệp Minh ở hướng Tây Bắc lối ba cây số. Rồi từ Đàn Hiệp Minh đi vòng luôn ra ngọn rạch Cái Khế quanh trở lại bến tàu Cần Thơ hướng Đông cũng khoảng ba cây số nữa.)

_ Khi Ngài bước ra đi thì không ai dám cản, nhưng mọi người bàn rằng để Ngài đi một mình ban đêm sao phải, rồi liền chạy theo khoảng mười người: anh Huỳnh, anh Niệm, ông Đốc Thượng, chị Minh Hồng, chị Minh Trình với các đạo hữu. Thấy Ngài xách cặp đi đằng trước chừng trăm thước, Ngài đi chậm rãi mà mọi người chạy theo mệt không kịp nhưng không dám lên tiếng. Vì Ngài không biểu theo mà cứ lúp xúp chạy theo hoài, còn chừng một cây số nữa thì tới Đàn Hiệp Minh thì Ngài day trở lại lấy tay khoát bảo trở về.

_ Mấy anh,mấy chị nghe vậy liền quay trở lại mà cũng chạy luôn, chạy lối trăm thước thì liền ngồi xuống đó mà thở, rồi thủng thẳng mọi người đi về. Chừng gần tới Đàn thì nhóm này gặp một người lính quen gác ở bến tàu về, người này hỏi: "Quí ông, quí bà đi đâu về?"...

-...Đạo hữu Minh Huỳnh nói: "Hồi 3h, ông Lớn đi vô Đàn Hiệp Minh, nên tôi đi theo rồi ông bảo đi trở về, còn ông đi luôn đến Đàn Hiệp Minh".

_ Người lính nói: "Cũng lạ ! Hồi 3h,tôi ra đứng gác chừng một chút thì thấy ông Lớn đi xuống tàu tay xách cặp, tôi không dám hỏi, rồi ông đi thẳng lên mui ngồi xuống lấy cái choàng trùm lại. Tới hơn 4h tôi nghe ông hỏi: "Mấy giờ tàu chạy, Tài Công?".

Ông Tài Công trả lời: "5h tàu mới chạy". Tôi cũng mãn phiên về đây."

_ Mấy anh, mấy chị nghe nói chưng hửng. Sáng cho người vô Đàn Hiệp Minh hỏi thì trong đó cũng nói:"Không có Quan Lớn vô đây". Chừng đó mới biết là tại ngày hôm qua Ngài giảng Đạo chỗ huyền diệu nên ông làm chỗ huyền diệu, xuất tánh phân thân cho biết. Nghe qua ai nấy cũng mừng.

- CẦN THƠ LẬP NGHĨA ĐỊA CHIẾU MINH (27)

_ Cuối năm Đinh Mão năm Đạo thứ 7, trong đạo hữu ở Cần Thơ như quí ông: Kinh Lý Võ Công Phượng, ông Hội Đồng Quảng Hạt Võ Văn Thơm, ông chủ hãng Nguyễn Văn Huỳnh. Quí ông nghĩ vì cơ Đạo Chiếu Minh càng ngày càng rộng lớn, bỡi Thiên Ý sẽ đặng trường tồn thì phải có một sở nghĩa địa vĩnh viễn. Nên quí ông viết thơ cho Quan Phủ hay, xin ông chứng kiến và cầu xin ông đến ngày qui vị cho phép đệ tử thỉnh xác ông về Nghĩa Địa để làm di tích. QUAN PHỦ TRẢ LỜI:

Sài Gòn,ngày 27-05 Đinh Mão !

_ Kính thăm toàn thể gia quyến đại tiểu đặng bình an !

_ Các đạo hữu có lòng gởi thăm tôi hoài mà chưa có dịp trả lời. Nay vừa tiếp được thơ sau nói về sở Nghĩa Địa. Tôi mừng cho các đạo hữu có công đức lớn với đồng Đạo.

_ Còn việc hỏi tôi đó ! Tôi có lời nguyện với Đức Thượng Đế hồi năm Tân Dậu tại núi Dương Đông ở Phú Quốc. Nay các đạo hữu thương tưởng muốn cho tôi thọ sự tử tế để dấu tích đời đời. Tôi rất cảm ơn, xin nhường lại cho các đạo hữu đứng tạo lập Nghĩa Địa. Các đạo hữu muốn rõ bổn phận tôi thì cầu cơ hỏi mới biết.

_ Tôi một lòng lo việc Trời, Đất, chẳng ham tiếng tăm, cũng chẳng muốn để cái thân này cho người rờ rẩm làm chi ! Hồi còn sống đây, trong lòng coi sự vinh hoa như tuồng hát chơi mà thôi. Há đi trông mong lúc bỏ xác ! Cảm ơn các ông và trong đạo. Còn cái Nghĩa Địa lập rồi đó thì cũng nên có một cái chùa để thờ Đức Thượng Đế và nuôi những người cô độc chịu tu, ở đó hương khói lau chùi, và phải có một sở ruộng hoặc vườn để hậu thuẫn thì mới bền vững."

_ Khi lập xong Sở Nghĩa Địa, tất cả trong bổn đạo có thiết Đàn cầu Ơn Trên xin đặt tên Nghĩa Địa: LÝ THÁI BẠCH ĐẮC CHỈ PHÊ HIỆU NGHĨA ĐỊA.

THI:

CHIẾU gương nhựt nguyệt rõ tâm thành.

MINH cảnh Đài Trung rạng giá thanh.

NGHĨA tụ ngàn năm bia tạc để,...

ĐỊA trường hai chữ tặng môn sanh.

CHIẾU MINH NGHĨA ĐỊA.

HỰU:

Môn sanh một dạ đẹp lòng Cha.

Dị tánh đồng môn tỷ một nhà.

Sống lập tâm kinh làm đạo đức.

Thác về nghĩa địa khỏe thân già.

HỰU:

Thân già an giấc bởi tu hành.

Tham Đạo không màng nẻo lợi danh.

Sống kể ngày,năm đời gọi yểu.

Thác về Tiên cảnh mới trường sanh.

HỰU:

Trường sanh dưới thế tính sai lầm.

Lẩn quẩn dương trần đặng mấy năm ?

Một giấc quang âm dường lửa nháng.

Về miền Cực Lạc khỏe muôn năm.

HỰU:

Muôn năm nghĩa địa chẳng phai mòn.

Ngọc Đế hồng ân tạc sử son.

Hai chữ CHIẾU MINH làm kỷ niệm.

Lưu truyền vạn kiếp vẫn bền còn.

_ Tiếp điễn:

CỬU THIÊN HUYỀN NỮ !

_ HỰU:

Bền còn ba chữ CHIẾU MINH ĐÀN.

Hiệp lực đồng tâm nghĩa mộ an.

Lập chí tu hành cho phải phép.

Ngàn năm xác dấu phách không tàn.

HỰU:

Không tàn phước lộc bỡi dày công.

Đạo đức vuông tròn rạng núi sông.

Khỏe mắt sanh tiền xem nghĩa địa,...

Vui lòng Tử hậu đến Non Bồng.

HỰU:

Non Bồng cõi thọ diệu hoàng thâm.

Muốn thoát trầm luân khổ chí tầm.

Một nắm xương tàn an nghĩa địa.

Hồn về Tiên Cảnh khỏe muôn năm.

HỰU:

Muôn năm giữ trọn tánh thiêng liêng.

Muốn thấy Như Lai Phật tại tiền.

Vui bữa tương rau ròng sám kệ.

Xác về nghĩa địa, phách phi Thiên.

HỰU:

Phi Thiên bửu pháp luyện thông đường.

Đắc lộ tịnh Thần rạng tợ gương.

Chư sĩ nhớ ghi lời dặn bảo !

Cầu cho nghĩa địa phước miên trường !

- ƠN TRÊN CHO QUAN PHỦ BÀI THI KHI NGÀI TU ĐƯỢC 7 NĂM (28)

_ Ngày rằm tháng chạp năm Đinh Mão thì Quan Phủ Ngô Minh Chiêu tu luyện được 7 năm, Đức Thượng Đế cho Ngài hai bài thi:

THI:

Thất niên dĩ cận thiểu nhơn tri.

CHIÊU dụ hồi tâm nhựt sở vi.

Tung thử Tam Kỳ hành chánh Đạo.

Trì nghi nan đắc Đạo vô vi.



Thích nôm:

Bảy năm lấp xấp đã gần bên.

CHIÊU đốc các con gắng chí bền.

Muôn kiếp hội may gần chánh giáo.

Trì nghi khó gặp nẻo mò lên.

_ Ngày 16 tháng Giêng năm Mậu Thìn. Quan Phủ xuống Đàn Hiệp Minh ở Cái Khế Cần Thơ. Bề Trên cho Ngài sáu bài thi và một bài trường thiên:

THI:

Nguyệt Minh Cao Chiếu Thượng minh quang.

Chánh khí huyền đô tử phủ đàng.

Nam kiệt huy đằng nhơn đạo chấp.

Bát vương tà, chánh giác Khôn Càn.

Cửu Trùng hạt cáo từ hàng giá.

Ngũ vọng dương lai thích lịch gian.

Tri cổ phan khê trung trực thế.

Hòa bình Võ Trụ tạc danh nhàn.

THI:

Nhựt CHIÊU đảnh tiếc điểm xuân quang.

Đồ ảnh diêu phong khí hiệp đàng.

Huỳnh Giá Minh Khai quân CHIẾU hội.

Bạch Sang băng võ diệu qui Càn.

Thanh Thiên yến nguyệt quan lai giá.

Bạch lộ nhựt qui kháng cảnh giang.

Lạc hóa thị đề ban đức tánh.

Ngao du thù tửu chúng môn nhàn.

THI:

Thiên phong suy trục tấn minh quang.

Thủy tọa vân quang náo động đàng.

Giai cú lãng ngâm hoan chước tửu.

Gia đình vô dạng bảo nguơn Càn.

Võ thâu tịnh hấp thiên lam tẩy.

Tiết chí khâm lư bá khả gian.

Hồ điệp bất tri xuân dĩ khứ.

Suy tâm du tự luyện thi nhàn.



THÍCH NÔM:

Đường trường khiêu khúc bóng dương quang.

Vẻ ngọc đêm rằm chói rỡ đàng.

Mây phủ chín từng xanh mặt núi.

Tuyết phê muôn dặm tráng sông Càn.

Tiếng ngâm thánh thót hòa phong thủy.

Chén rượu ngạt ngào đối tuyệt gian.

Trăng cảnh nước người bao xiết nói.

Trai lành,gái tột hưởng an nhàn.

THI:

Rừng xanh rậm nẻo vẻ hòa quang.

Bóng phất ngày xuân chiếu dặm đàng.

Một túi Huỳnh Tương đưa ngọn gió.

Đôi bầu linh dược trải ơn Càn.

Tiếng phơi cữa Phật trăm năm tạc.

Nhuận đắc nhà Tiên chín cõi gian.

Tỏa sáng trên đời màu bát ngát.

Gái, Trai thong thả cuộc phong nhàn.

THI:

Tiên Bồng vừa mở tiệc phong quang.

Chào khách bốn phương hiệp một đàng.

Thoang thoảng ngoài đường tay rực rỡ.

Lăng xăng trong cữa tiếng ăn Càn.

Chòm sao liễng chớp trên không nháy.

Luồng gió đùa mây dưới thế gian.

Sơn giả thất trùng mê mãn nhãn.

Nửa về, nửa ở cảnh u nhàn.



TRƯỜNG THIÊN:

Khắp trong đệ tử đâu đâu.

Một lòng cách trí ban đầu sơ giao.

Ngày kia sẽ thấy Thiên Tào.

Gái, trai chớ có khoe màu đục trong!

Tu hành để dạ đề phòng.

Chớ cho thất lật long đong việc đời.

Chớ đừng cái giọng hết hơi.

Vì đời mà khổ phần hồn, thấy không?

Phải minh luật pháp chánh tông.

Chớ cho Xiển Giáo chẳng đồng thấp cao !

Phải cho hòa hưỡn đừng mau.

Khí trì tất chú không bao vận hành.

Xét coi tỏ Đạo chiếu danh.

Ta-bà huyền mật lòng thành hoàng cung.

Cam Lồ nhứt điểm sáng cùng.

Một vòng tóm sạch tùy tùng Phật, Tiên.

Ra công quét sạch hồng duyên.

Khỏi vào lục đạo phước hiền siêu thăng.

Sớm khuya ghi chữ Thiện Căn.

Bồ Đề an phận lòng hằng hôm mai.

Thấy trong trai gái dồi mài.

Mười phần có một hoa khai trên đời.

Gái lo gắng nhuận an nơi.

Trau công bồi quả,chớ lời tranh đua.

Việc trong Phật Giáo phép chùa.

Đừng suy vinh nhục, đừng mua tiếng đồn !

Gái ông phải xét cho khôn.

Công danh phú quí phần hồn đâu siêu.

Vô Đàn ngó thấy người CHIÊU.

Ai đời sấm nổ đường tiều lấp chông.

Nhiều nơi diễn thuyết xưng ông.

Tam Hoàng, Ngũ Đế, thần đồng nêu danh.

Phần đời phải biết tồn sanh.

Sang Đạo tôn giáo khó thành ngày sau.

Năm rồi Chỉ Sắc làm sao?

Trò ôi ! lập chí là bao nhưng là...

Làm sao ẩn phục vào ra.

Miên miên gió thổi tài qua mắt người.

Rằng đầy, rằng khuyết dạ khươi.

Hành tàng uẩn áo kẻ cười người chê.

Khắp trong hườn nội bốn bề.

Vào ra chật ngõ sanh lê biết đồng.

Tới đâu để đó như không.

Ai gầy, ai đác ,ai trồng bỏ đây?

Rằng đi du lịch tiếng Thầy.

Tiên thành kỳ ý lời này bớ con !

Vì lời kim thạch sắt son.

Bất tri bất luận, Đạo còn trung dung.

Biết rằng chí phải kim tùng.

Đục trong sánh lấy thủy chung Thầy trò./.



_ Ngài hầu Đàn tại Hiệp Minh ngày 16, rồi tới Đàn Chánh đêm 17 tháng Giêng Mậu Thìn lập Đàn:

THI:

Linh Tiêu thích lịch Đạo hoằng khai.

Xuất thủy bạch liên lục pháp đài.

Vạn đại hưng điều cam võ lộ.

Thử thân bất nhiễm lộng trần-ai.

CHIÊU ! Thử lai thiên hạ xảo đa ngôn.

Tiên Nhựt dĩ truyền nhứt phái tôn.

Vạn sự chung qui giai hiệp nhứt.

Khuyến quân mạt nại thế đa ngôn.



_ Nghi giảm khẩu mạc tầm lai chi nhuệ xứ.

Khả an bần thủ phận thần hôn luyện Đạo 道。

Chỉ giáo

hiền nhơn chi sĩ,

tùng hành Chánh Đạo,

đãi mãn công quả

phản hồi cựu vị .

Mạc hậu Thiên Cơ,

mật giữ thố truyền,

mạc tín tha nhơn,

lưỡng tâm nhiễu sự.

Tại Thiên Cung đã ghi vào bộ công khai Đạo. Hà nhựt thành công phi đằng tùng quyền cựu chủ. Khuyến nhử khả chủ ý châm tâm, bất khả bán đồ nhi phế, tội dĩ phản hườn ư nhử.

_ THI:

Ta là Ngọc Đế chốn Linh Tiêu.

Thương bấy chúng sanh phải dắt dìu!

Khuyên trẻ lo tu cho kịp hội!

Các con tua giữ của lời CHIÊU.

HỰU:

CHIÊU con khá giữ mấy lời khuyên!

Chữ dạ kiên tâm bất thố truyền.

Hiện thế nhơn tình đa lảnh noãn.

Bất nghi nhi điễn thính cuồng điên.

THI:

Tạo vẻ giang san một cảnh Trời.

Hoằng khai Đại Đạo độ cùng nơi.

CHIÊU con hãy nhớ lời khuyên trước!

Bảo hộ dân lành đặng thảnh thơi.

THI:

Thay mặt cho Thầy chớ thở than!

Khá đem chư sĩ lại chung đàng.

Lánh nơi tà mỵ dùng người chánh.

Mới phải là người độ thế an.

Qua ngày sau Quan Phủ về Sài Gòn./.



- QUAN PHỦ ĐI DU LỊCH (29)

_ Quan Phủ đi du lịch tháng 04 năm Mậu Thìn (Năm Đạo thứ 8)

_ Ngài xuống Cần Thơ cho trong hàng đệ tử hay, Ngài nói: "Có lịnh Đức Thượng Đế dạy tôi đi rải thuốc Kim Đơn khắp bốn phương tám hướng. Nay tôi có xin phép nghỉ sáu tháng, đặng thong thả đi du lịch theo lệnh Đức Thượng Đế dạy."

_ Trước khi đi, có lập Đàn cầu cơ tại Đàn Chánh ngày mùng 06 tháng 04:

Đức THÀNH HOÀNG BỔN CẢNH giáng cơ.

_ Khi đọc bài: "Mừng thay... đến câu: Đèn lòa ngọn lửa tợ rồng phung châu" thì đức Thành Hoàng tả một bài thi:

THI:

Phun Châu nhả Ngọc ngộ giai kỳ.

Chư sĩ hoan phùng hội khả vi.

Phổ Độ Tam Kỳ hườn cựu luật.

Thành Hoàng báo hỷ tặng âm tri.

_ Khi hiến tửu đọc đến câu: "Tiên Ông hoan lạc kiết trinh tường" thì đức Thành Hoàng tiếp thêm một bài:

THI:

Trinh tường hai chữ tặng tri âm.

Mở lối Tiên Thiên thế dễ tầm.

Nhớ lúc Đào Nguyên nơi thượng cảnh!

Từ đây qua đó chẳng bao lâm.

Đường trường tách dặm Thần theo hộ.

Nẻo tắt dời chơn Thánh giúp phò.

Rải thuốc Kim Đơn đời tỉnh ngộ.

Ban truyền đạo đức thức nhơn tâm.

_ Quan Phủ khởi sự đi du lịch ngày 20 tháng 04, các đệ tử xin theo được 15 người gồm có 9 nam và 6 nữ ,đi bằng 4 chiếc xe hơi.

_ Ngày 22-04 tới núi Trà Lơn, sau khi sửa soạn hành lý xong thì Ngài đi trước, các đệ tử theo sau. Chừng tới chân núi Quan Phủ bảo dừng lại, Ngài đứng ngay thẳng nhìn lên núi độ chừng vài phút đồng hồ rồi dặn: "Khi lên núi thấy gì thì thấy cứ việc làm thinh. Dầu gặp dữ cũng hóa ra lành, bỡi họa tùng khẩu xuất".

_ Ngài đi nhanh lên núi, các đệ tử theo sau, chân trèo tay níu, hầm hố hiểm nguy mà Ngài đi coi rất dễ, hình như có ai vịnh vậy. Còn các đệ tử leo trèo cũng mệt mà theo không muốn kịp Ngài. Bỡi phần đông là người quan chức giàu có không quen đi bộ, phần thì lo sợ Ngài té nên cứ lo nhìn canh chừng; còn thân mình thì trầy xể mà không hay. Đi lên chừng một đỗi thì thấy nhiều loại thú rừng đứng bên đường khoảng chừng trăm thước mà Ngài cứ việc đi tới. Còn trên cành thì khỉ, vượn chuyền nhảy hú vang, heo rừng, hươu, nai thứ nào cũng có... Mà thú rừng thật bạo dạn ,hay là nó biết người tu nên không sợ ! Cứ việc đứng ăn hoặc vừa đi vừa ngó thậm chí còn giỡn với nhau nữa. Có nhiều thứ chim to lớn, tiếng kêu thánh thoát, gà rừng quạt cánh gáy vang.

_ Đi chừng nửa buổi thì tới một con suối, lại gặp một tốp người Miên khoảng hơn hai mươi người với cây mác cầm tay. Nhưng không được rõ họ là thợ săn hay là kẻ đón đường người đi du lịch, mà họ thấy mọi người mặc toàn đồ trắng nên họ đứng ngó chết trân. Còn đàng này, Thầy trò cứ việc đi riết tới động Trung Tòa thì Trời đã xế. Nghỉ một chút, thấy Quan Phủ đem cái địa bàn đặt trên rền đá cao, Ngài xoay giáp hướng, nhắm nghía một hồi rồi lấy sổ lật ra ghi nhựt ký.

_ Tối đến lập Đàn thì có Thành Hoàng Bổn Cảnh về cơ cho hai bài thi:

THI:

THÀNH Đạo nhà Nam thấy rõ rồi.

HOÀNG cầu hưởng ứng đắc cao ngôi.

BỔN căn gặp đặng kỳ ân xá.

CẢNH báu Tiên Cung kíp phản hồi.

THÀNH HOÀNG BỔN CẢNH.

THI:

Trà Lơn vòi vọi huốt từng mây.

Đại Đức du sang đến cảnh này.

Rải thuốc Kim Đơn truyền độ thế.

Nguyên sanh nhuần gội bởi ngày nay.

_ Thành Hoàng tiếp hỷ mừng Đại Đức du sang cùng tất cả Đạo tâm đàn nội. Ráng phò trì Đại Đức sẽ đặng công cao, chư hiền theo Đại Đức du sang một cảnh thì công hóa bằng đi hành Đạo một Châu. Sau nguyên sanh giác ngộ đạo mầu cũng nhờ bởi ngày nay bố đức.

_ Chư hiền cứ vững tâm ! Bởi có sắc chỉ Thiên Đình, Đại Đức đến đâu thì có Thần Bổn Cảnh đưa đón. Ta xin kiếu...

_ Hôm sau,Quan Phủ cùng các đệ tử xuống tới chân núi lên xe rồi Ngài quyết định đi Hà Tiên .Khi đến Hà Tiên, Ngài dạy ghé chùa Tiên Sơn Tự tại Thạch Động lập Đàn. Sơn Thần giáng cơ cho hai bài thi:

THI:

SƠN Tiên Bửu Cảnh thế kỳ trân.

THẦN Thánh kiêm CHIÊU giáng hạ trần.

LAI hữu Hoàng Gia truyền chỉ dụ.

BÁO kỳ Thánh Giá ngự trùng ân.

SƠN THẦN LAI BÁO. Ta Sơn Thần Phù Sứ phụng chỉ báo tin. Ta kính tặng Đại Đức một bài công quả.

THI:

Thử khứ hậu lai đắc lộ trình.

Từ nhiên lảng Nguyệt hữu CHIÊU MINH.

Đường thời Thiên vận kỳ luân chuyển.

Mảng tải công phu sự thái bình.

_ Ta xuất ngoại nghinh tiếp Thượng Đế giá lâm...

_Tiếp cầu:

THI:

Khá khen một dạ giúp dân lành.

Công quả ngày sau tạc sử thanh.

Mấy trẻ tùng CHIÊU bồi vực hẩm.

Nên cồn biển khổ lấp đàng quanh.

_ Chiêu con ! Kể ngày nay lập sổ công quả cho các em tại Tiên Sơn Tự. Sau Thầy sẽ điểm công, Thầy cho các con an tọa.

TRƯỜNG THIÊN:

Kể từ Sơn Tự ngày nay.

Cấp thêm Sứ Giả theo rày hộ an.

Ngày sau đến lúc khoa tràng.

Giữ tròn công quả tràng phan rước về.

Độ dân mau tỉnh giấc mê.

CHIÊU con, mau khá mựa hề đơn sai!

QUÍ theo phụ tá hôm mai.

Cũng đồng mấy trẻ chớ nài mỏi mê!

Nhớ xưa Thế Mẫn Trương Huề.

Đôi người chịu khó sau về tòa sen.

Đêm lo luyện tập cho quen.

Ngày qua bắc lãnh mở then đưa người.

Giữ lòng dường thể hoa tươi.

Thế chê mặc thế, ta cười làm ngơ.

Miễn đưa chúng khổ đến bờ.

Công thành hai trẻ ban sơ đến cùng.

Làm người hữu thủy hữu chung.

Ngày sau mới đặng trùng phùng cựu ngôi.

THI:

Cạn lời dặn bảo các con ôi !

Khổ hạnh đừng than,chịu một hồi.

Trong lúc lộ trình Thần, Thánh hộ.

Hành tròn công quả đặng cao ngôi.



_ Cũng đêm đó đức Thành Hoàng có cho bài trường thiên:

TRƯỜNG THIÊN:

Thành tâm Trời Phật chứng tri.

Hoằng khai mối Đạo kịp kỳ điểm công.

Bảo dân kinh sám cho ròng.

HỘ Đàn chúng khổ khỏi vòng trần ai.

CHIẾU gương thắng cảnh Phật Đài.

QUI y sau cũng bệ giai chực hầu.

Phương danh mối Đạo bền lâu.

HUY dương Tiên bút ngõ hầu dạy răn.

HUỲNH mai cữa khuyết nở giăng.

THANH thao mùi đạo thoạt lằn khí Tiên.

ĐÔNG nam gió quạt cữa thiền.

HỘ người lương thiện qua miền Lôi Âm.

TRỌNG câu Chánh Giáo lo tầm.

BÍCH đàng biển ái chớ lầm lũi vô!

MỌN lòng mẫn ái lân cô.

KÌNH đàng tu niệm lánh đàng lợi danh.

NGỮ ngôn mặc thế chớ tranh.

HỒNG tâm từ thiện phước dành về sau.

VÀNG cao gặp lửa càng cao.

NHÃN tiền sau cũng Thiên Tào đề lai.

Đăng sơn hạ đảnh mựa nay.

TRÌNH câu đại lễ Phật Đài chứng minh.

Bình tâm thiện chí đinh ninh.

Yên lòng hội hữu đăng trình độ dân.

(Trong bài này chữ lớn ở đầu câu là tên của những vị đệ tử đi theo phò Quan Phủ.)

_ Quan Phủ đi tới chùa Kim Cang, đêm đó cầu cơ đức Thích Ca Như Lai giáng cơ cho một bài thi:

THI:

NHƯ kim Ngọc Đế ngự trần gian.

LAI vãng phổ an chúng hội đoàn.

THÍCH lý Bồ Đề khuyên trược cảnh.

CA hồi Đại Đạo việc hân hoan.

NHƯ LAI THÍCH CA. Chư môn đồ phò Đại Đức du hành Đạo ,phổ hóa chúng sanh, ráng lo tu tịnh. Bần Đạo kiếu...

_ Quan Phủ lên tới núi Bà Khen lập Đàn, đức Ẩn Nguyệt Thiền Sư về cơ cho hai bài thi:

THI:

CHIÊU an bá tánh cải lòng manh.

QUI củ Tiên Gia đã sẵn dành.

PHƯƠNG tiện cho tròn nền Đạo lý.

HUY hoàng cửa Phật mới là nhanh.

THANH thao mùi Đạo âu men tới.

ĐÔNG chí hầu qua bặt gió thanh.

HỘ tống Đường Tăng qua khướu lãnh.

HUỲNH luôn đưa đón bước thêm nhanh.

THI:

CHIÊU Minh Đạo lý dắt người mê.

HỒNG hộc đàng xưa kíp lộn về.

KÌNH chóng theo người đàng đạo đức.

MỌN lời khuê kịch tiếng khen chê.

NGỮ ngôn theo bực Thầy trò bạn.

VÀNG thiệt lửa lò tánh chẳng ghê.

NHÃN huệ cầu người tương chỉ dẫn.

QUÍ đưa sĩ nữ quá đàng khê.

_ Hôm sau,Quan Phủ đem địa bàn đặt trên núi Bà Khen xoay giáp hướng. Ngài đứng ngay thẳng xem hết bốn phương tám hướng rồi Ngài lấy sổ ra ghi nhựt ký và công quả cho các đệ tử. Ngài nói: "Nơi Phú Quốc đường đi cách trở mà tôi có tới đó rồi. Thôi các đạo hữu để sau đi cũng được !". Sau đó Ngài cũng ghi vào sổ.

_ Du lịch địa cảnh Hà Tiên rồi thì Ngài lại quyết định đi Đế Thiên Đế Thích. Đoàn xe bắt đầu chạy suốt ngày đêm, trên đường đi Ngài bảo ngừng thì ngừng rồi Ngài cũng để địa bàn xem và ghi vào sổ.

_ Chừng đến Đế Thiên Đế Thích thì Ngài cùng các đệ tử đi viếng các chùa cùng dạo hết thành phố cho đến thôn quê. Khi đi tới một tòa núi cao, lựa chỗ bằng phẳng rồi Ngài để cái địa bàn xuống và đứng xem khắp hướng, lấy tay xoay cái địa bàn từ từ và ghi vào sổ cũng từ chặng cho đến giáp vòng. Sau đó Ngài kêu các đệ tử lại và nói: "Hướng này là ra Bắc Việt, hướng này là Trung Việt". Các đệ tử đều vâng dạ.

_ Ngài liền ghi vào sổ rồi tiếp: "Theo lẽ thì phải đi cho đến Trung Bắc nhưng nay cũng gần hết hạn kỳ sáu tháng. Vậy phải nhớ ngày nay tôi có đứng nhìn, chỉ đường cho các đạo hữu và ghi vô sổ cũng được rồi ! Thôi sắp sửa về, còn ghé Nam Vang nữa".

_ Khi đoàn xe chạy gần tới thành phố Nam Vang thì Ngài bảo xe ngừng và xuống xe, tất cả đệ tử cũng xuống xe hết. Ngài đứng xem phong cảnh một hồi lâu, sau đó Ngài lấy địa bàn để xuống xoay khắp hướng nhưng lần này chỉ coi qua thôi chớ không có ghi vào sổ, rồi lên xe chạy tới chợ. Ngài ngồi trên xe chạy giáp vòng chớ không đi bộ như các chợ khác. Ngài nói: "Thôi về, ở đây làm chi?"

_ Đoàn xe chạy về tới Sài Gòn, Ngài nói đi luôn xuống Cà Mau. Ngày hôm sau đoàn xe tới Cà Mau, Ngài xuống xe đi trước, các đệ tử theo sau, đi đến khoảng đất trống Ngài đứng lại ngắm xem phong cảnh một hồi rồi nói: "Nước Việt Nam ngoài Hải Phòng là địa đầu, trong Cà Mau là đuôi mảnh đất tuy nhỏ mà được mối Đạo cũng quí". Sau đó Ngài để địa bàn xoay giáp hướng nói:"Thôi về chớ nên trì hưỡn mà trễ kỳ..." và Ngài cũng ghi vào sổ như mọi nơi. Tất cả mọi người đều lên xe trở về.

_ Đoàn xe chạy về tới Cần Thơ ghé vào Đàn Chánh, các đạo hữu hay tin Quan Phủ đi du lịch về đến mừng Ngài rất đông.

_ Ngài nói: "Các đạo hữu vì Đạo, vì nhơn sanh mà suốt cả nửa năm phải biết bao lần lên đèo xuống hố, dãi gió dầm sương, gian nắng, ăn không no, ngủ không thẳng giấc, phế việc gia đình, tốn hao chẳng quản. Thiệt là công quả đậm ở buổi đầu tiên. Vậy sổ công quả này tôi sẽ dâng lên Đức Thượng Đế."

_ Hôm sau Quan Phủ về Sài Gòn. (Trong thời gian Quan Phủ đi du lịch sáu tháng, đây chỉ ghi lại những chỗ đại khái như là: Núi Trà Lơn, Hà Tiên, Đế Thiên Đế Thích, Nam Vang, Cà Mau. Chớ bất luận ở quảng đường nào hay chợ nào, Ngài muốn xuống đâu thì xe phải ngừng lại ,Ngài cũng đem địa bàn để xoay giáp hướng và ghi nhựt ký vào sổ hết. Đức Thượng Đế dạy Quan Phủ đi du lịch và rải thuốc Kim Đơn có ý nghĩa như vầy:

-...: Một là đi bố đức khắp nơi cho nhơn sanh giác ngộ, Hai là Ngài biết trước sau này chỗ nào có các bực Nguyên Nhân sẽ tầm tu siêu thoát nên Ngài đứng xem rồi ghi vào sổ. Đó là Ngài thâu trước và mở lối cho Nguyên Nhân đặng nương theo đường lối của Ngài mà tầm tu cho trúng. Ngài biết trước có thiệt thì có giả, sợ Nguyên Nhân lầm lạc mà uổng kiếp tu.)

- SAU KHI ĐI DU LỊCH VỀ (30)

_ Sau khi Quan Phủ đi du lịch về, Ngài cũng ở Sài Gòn làm việc như trước. Qua đến năm Mậu Thìn (là năm Đạo thứ 8), Đàn khai cơ giáng dạy:

THI:

Tầm sư học Đạo chốn Linh Tiêu.

Từ thuở Tam Hoàng Minh Nguyệt triều.

Đài nội Minh Hoàng lên viếng cảnh.

Trăng thu vọng tưởng chỗ MINH CHIÊU.

_ Ta cho chư sĩ hay: đúng Tý thời Thượng Đế giá lâm, phải kỉnh thành hai bên nghinh tiếp. Đồng tử cũng đứng đẳng đẳng, phải có bông nhang cặm trên đầu. Khi Thượng Đế giá lâm chẳng nên dùng chữ "Tiên Ông" mà phải dùng chữ "Linh Tiêu".

Tái cầu:

THƯỢNG ĐẾ giá lâm.

THI:

Trăng thu thưởng Nguyệt tạm Đàn chơi.

Tử đệ lòng thành gắng vó mời.

Nam nữ hai bên đồng túc kỉnh.

Lóng tai nghe dạy thử đôi lời.



TRƯỜNG THIÊN:

Đêm thanh trăng rọi sáng ngời.

Tòng reo, gió thổi trên Trời sao giăng.

Thỏa lòng hứng cảnh bóng Hằng.

Vừng mây đỡ gót giáng thăng chốn trần.

Thương con Thầy chỉ Đạo bần.

Quản chi trần thế, lao thân ích gì !

Toan lo đầu Phật qui y.

Ngày ngày mộ chữ Tu Trì hay hơn.

Nhọc nhằn đừng để dạ sờn.

Tiêu diêu chốn cũ Linh Đơn độ về.

Một lòng chớ khá tê mê.

Ba từng chậu úp bốn bề chạy ra.

Lánh vòng chói ánh sáng lòa.

Chuột kêu tí tục, gà đà gáy rân.

Rồng kia ẩn bóng sông Ngân.

Chờ cho trăng lặn lần lần phun châu.

Bớ con, cho rõ đuôi đầu !

Phụng nằm ấp trứng minh châu chờ ngày.

Hoa thơm nhụy nở liên đài.

Sang Thu hoa nở bệ giai có Thầy.

Ai hay cho gả lưng đầy.

Huỳnh Tương con uống, anh tài khi xưa.

Căn duyên ngày trước cũng vừa.

Chí tâm giữ lấy muối dưa vào lòng.

Vừng mây cung hạc chực mong.

Kiếm nơi gió mát trăng trong khỏe mình.

Trần Tô xưa luyện đơn kinh.

Đến khi thành Đạo minh minh trở về.

Nay con rõ vậy phụng đề.

Ba năm tám tháng dựa kề Bồng Lai.

Đôi lời cạn tỏ cho ai?

Bề trong khuôn đúc, bề ngoài ra sao?

_ CHIÊU! Ngày cơm hai bữa cho

Đức Thượng Đế dạy như vậy nên Quan Phủ ít giao thiệp với ai, Ngài cứ ẩn Tu.



TIỂU SỬ HÀNH ĐẠO ĐỨC NGÔI HAI (Phần IV)



MINH HỒNG CHÚC TẾT QUAN PHỦ (31)

1) MINH HỒNG LÊN SÀI GÒN:

_ Quan Phủ ở Sài Gòn nên lâu lắm mới xuống Cần Thơ. Lúc bấy giờ nhằm lúc gần tết, đạo tỷ Minh Hồng sửa soạn lên Sài Gòn để thăm Quan Lớn. Lần này Đạo Tỷ tính ở chơi lâu nên không dám mua món gì đem lên hết vì sợ bị rầy rồi Quan Lớn đuổi về nên ở lâu không được. Do vậy chị chỉ đem tiền theo mà thôi.

_ Khi tới nhà Quan Phủ, kỳ này không bị rầy, lần lượt bổn đạo đến cũng đông, Ngài vui nói: "Chị Tư Huỳnh móc tiền túi ra đãi lạc xá, có mấy người Phú Lâm ra nữa kìa!"

_ Đạo tỷ Minh Hồng được lịnh đi chợ mua đồ đãi thả cửa, mấy ngày tết cũng đãi luôn. Đến tối ba mươi rạng sáng mùng một tu hội gọi là Đại Công Phu từ giờ Tý ngồi tới sáng. Đêm đó bổn đạo đến cũng đông, thức chơi đến khuya nên đạo tỷ Minh Hồng ngủ quên.Chừng tới giờ công phu thì Ngài không cho kêu. Ngài ngồi giữa,các đệ tử ngồi hai bên mà công phu. Còn Minh Hồng thì nằm ngủ kế đó, chừng Đạo Tỷ thức giấc nghe tiếng động mở mắt ra thấy Ngài ngồi giữa, còn bổn đạo ngồi bao quanh mình hết. Đạo tỷ hơi buồn : "Đãi họ ăn no, đến lúc công phu thì không ai kêu giùm. Thôi nằm đây ngủ luôn coi ai làm sao cho biết!"

_ Đến sáng các đạo hữu nói: "Ông không cho kêu, chắc ông thử chị coi còn sân không? Bởi tánh chị tôi biết: vì chỗ kính trọng Quan Lớn nên chị hay mua đồ đem lên, cùng thảo ăn ưa đãi đằng trong bạn đạo. Nhưng Quan Phủ cổ kim đều khác, không muốn cho ai tôn trọng, không thọ hưởng của ai. Nên làm vậy cho chị buồn đặng sau đừng mua đồ đem lên và không đãi đằng nữa."

_ Đạo Tỷ cười chớ không nói chi hết. Đến khoản tám chín giờ, mọi người đi chơi tứ tán hết.

_ Còn Quan Phủ ra đằng trước, Ngài ngồi trên ghế. Đạo tỷ Minh Hồng cũng ngồi dưới ván gần đó mà trong trí đang suy nghĩ :"Bữa nay đầu năm tính coi nói gì với Quan Lớn đây". Bởi hằng ngày hễ mở miệng ra thì bị khảo nên còn lưỡng lự.

2) MINH HỒNG CHÚC TẾT QUAN PHỦ:

_Đạo tỷ Minh Nghiêm đi chợ về có mua một chai rượu Sâm Banh thứ nhỏ, tay cầm cái ly đến trước Quan Phủ quì xuống rót một ly rượu nói: "Bạch Thầy, nay bước qua năm mới, xin Thầy chứng lễ này cho con mừng tuổi."

_ Ngài ừ rồi bưng ly rượu uống liền, ngồi chịu cho Minh Nghiêm lạy ba lạy, Ngài còn nói: "Ông CAO ĐÀI là CHIÊU đây chớ ai ! "

_ Đạo tỷ Minh Hồng thấy vậy bắt chước, lẻn đi chợ mua một chai rượu Sâm Banh thứ lớn đem về, cũng lấy cái ly rót ra rồi quì xuống nói :"Bạch Thầy, nay là đầu năm. Xin Thầy nhận lễ này cho đệ tử lạy mừng thọ !"

_ Ngài ngồi làm thinh nhắm mắt lại không nói chi hết, Đạo tỷ Minh Hồng quì dưới ván lâu nên mỏi rụng, mới vừa đứng dậy thì Ngài mở mắt ra nói: "Vô lễ, vô lễ". Minh Hồng túng phải quì xuống lần nữa đưng lên. Ngài cười rồi bưng ly rượu của Đạo Tỷ uống và cũng ngồi nhận của đạo tỷ Minh Hồng lạy 3 lạy, Ngài nói :"CAO ĐÀI là Đài cao tột bực, là trường thi hội, không phân biệt dân tộc nào.

_ Hai chữ CAO ĐÀI có cái nghĩa kín cao siêu mầu nhiệm, nó ẩn lý bên trong. Trừ ra có tu đến bực Tối Thượng Thừa gọi là Đại Học Chi Đạo mới thấu đáo nổi. Ráng tìm hiểu mà hành cho đắc hai chữ CAO ĐÀI thì thành chánh quả chẳng sai."./.

3) QUAN PHỦ GIA ƠN CHO CON CHỊ MINH TRÌNH:

_ Đạo tỷ Minh Trình ở Cần Thơ lên thăm Quan Phủ, chị tính ở chơi vài ngày nên có bồng theo đứa nhỏ lối chừng ba bốn tuổi. Vì mấy lần trước ,cứ mỗi lần lên thì Ngài nói: "Thôi thăm một chút rồi về, có con nhỏ nên đừng ở lâu". Chị liền vâng dạ, cơm nước xong rồi về. Bởi tánh chị kỉnh Quan Phủ lắm, biểu về thì về, không dám cãi. Chuyến này chị bồng đứa nhỏ theo, mà đứa nhỏ này hàng ngày ưa ăn bánh với uống sữa, chớ ít ăn cơm. Nay chị lên sớm Ngài nói: "Bà Thơm gặp bữa đi ăn luôn !"

_ Chị để đứa nhỏ ngồi xuống đó rồi chị cũng đi ăn cơm với Quan Phủ luôn. Còn đứa nhỏ thì chị đã có cho ăn bánh rồi nên không nghĩ tới nó nữa.

_ Còn Quan Lớn, Ngài đi lấy cái chén bới cơm đầy chén, gắp thêm ít miếng đồ chay, bẻ hai trái chuối rồi Ngài đem lại nói: "Cho con đó ăn đi !"

_ Đứa nhỏ liền bưng chén cơm ăn một cách ngon lành đến hết chén cơm và hai trái chuối mà Ngài đã cho. Chớ ở nhà nó phải có người đút nhưng nó còn không chịu ăn. Mà hôm nay nó ăn nhiều quá nên chị cũng hơi sợ. Vì vậy chị để ý canh chừng nó, thấy không sao thì chị cũng yên tâm. Đến tối đi ngủ, Quan Phủ ngồi trên ghế ngủ ở trong chỗ thờ, còn mấy chị thì ngủ ở ngoài mà cũng ngang đó. Bởi nhà lầu nên trải chiếu dưới ván mà nằm đỡ. Chớ Ngài không cho sắm giường chỏng chi hết, khi đến đây ai ngủ ngồi được thì dựa vào vách đó mà ngủ, ai ngồi không nổi thì trải chiếu mà nằm.

_ Khi ngủ chị Trình để đứa nhỏ nằm ngoài, cũng gần chỗ Quan Phủ ngồi ngủ. Đến chừng mấy chị ngủ hết mà đứa nhỏ này còn thức. Nó nhìn thấy chỗ Ngài ngồi chiếu sáng, còn trên đầu Ngài thì có một cục lửa bay lên tới nóc nhà rồi xuống, mà cứ lên xuống như vậy hoài, nó cứ nhìn mãi, ngủ không được mà nó không dám la. Chừng chị thức giấc nó nói: "Má ơi ! Con không dám nằm ngoài nữa đâu. Con sợ lắm."

_ Chị hỏi:"Sợ gì?"

_ Nó nói: "Con thấy chỗ ông ngồi có cái gì sáng chói mắt quá, còn trên đầu ông có cục lửa lớn bay lên tới nóc nhà rồi xuống, cứ vậy hoài. Con sợ lắm rồi !". Nó liền bò vô trong.

_ Mấy chị nghe nói nên để ý coi thì không thấy gì hết. (Đứa nhỏ này tên là Luis nhờ Ngài cho ăn một chén cơm với hai trái chuối và cho thấy huyền diệu nên sau nó lớn lên đi lính Sơn Đá cho Pháp,bị giặc giết gần hết chỉ còn lại nó với bảy người nữa,và gặp nhiều tai nạn mà cũng qua khỏi. Với tánh tình hiền hậu, có tiền thì bố thí, cứu người hoạn nạn. Người Pháp tin dùng nên giao tội phạm cho nó trông coi thì nó lập mưu thả tội rồi báo cáo trốn. Nó rất kính thờ Quan Phủ rất tinh khiết : lạy Ngài trước khi đi làm và khi về tới nhà cũng lạy nữa).

_ Qua ngày mùng 03, sáng cơm nước xong rồi mấy chị đi chợ hết./.

_ 4) CHỊ PHỦ LƯỢNG ĐẾN TÌM NGÀI:

_ Trong thời đó ở Sài Gòn có chị Phủ Lượng là nhà khá giả, nhan sắc hơn người. Chị được biết Quan Phủ Chiêu sớm, tin tưởng Ngài lắm và chị cũng có lòng ham học Đạo. Nhưng ý còn tiếc đời, thường nói với mấy chị trong Đạo rằng: "Tôi muốn tu mà việc nhà chưa rảnh". Chị cũng thường tới lui hầu Đàn. Nay chị tính đến cầu hỏi Quan Phủ coi chị tới thời kỳ tu được chưa? Liền thấy mấy chị trong Đạo đi chợ ghé thăm, rồi rủ chị đi chợ. Chị Lượng nói: "Tôi nay có việc đi không đặng, xin để khi khác"

-...Mấy chị kia từ giã ra đi. Chị Lượng nhắm chừng biết hiện giờ Quan Lớn ở nhà có một mình. Chị liền đi đến, khi bước lên lầu chị thấy Ngài đang ngồi công phu , chị quì đàng sau mà lạy. Bỗng nhiên chị thấy trên đầu Ngài khói bay lên hết đám này tới đám khác, cứ vậy hoài. Sau đó Ngài đứng dậy hỏi: "Chị Lượng đi đâu đây?"

_ Chị nói:"Thưa Quan Lớn, năm nay tôi tính tu mà không biết duyên phần tới chưa? Xin Quan Lớn dạy cho tôi rõ !"

_ Ngài nói: "Được. Muốn tu thì về lấy khăn gói hết hột xoàn,vàng vòng,cà-rá đem xuống cầu tàu quăng hết đi ! Phàm ở đời ,thiếu nợ hai cắc thì phải trả hai cắc chớ trả một được đâu. Thôi về tính coi, nếu được vậy thì đem hết lại đây,đi với tôi quăng rồi thì tôi chỉ Đạo cho."

_ Chị Lượng vâng dạ, về suy nghĩ bỏ không đành. Sau đó mấy chị đi chợ về ghé thăm chị Lượng có việc gì, chừng vô nhà trà nước xong rồi, chị Lượng mới tường thuật hết những lời của Ngài cho mấy chị nghe. Mấy chị hỏi chị Lượng: "Vậy chớ chị dám quăng không?"

_ Chị nói:"Nhiều lắm. Tiếc quá,liệng không đành. Thôi để sau rồi thế nào tôi cũng cầu ông mà tu."

_(Chị này là vợ của ông Phủ Lượng với Hội Đồng Thơm đi tìm Quan Phủ đầu tiên hết. Bởi Ngài biết chị Lượng còn mắc nợ đời, tu chưa được nên nói: Thiếu hai cắc thì trả hai cắc, mới nghe qua chị tưởng hai kiếp mới tu được. Chẳng ngờ chị mắc phải hai đời chồng. Chớ phải chị dám đem hết của tiền đi với Ngài quăng thì Ngài dạy cho bố thí. Rồi Ngài xả hết nghiệp cho thì tu được, bởi lấy lý do là khó, của là nghiệp duyên.)./.

5) QUAN PHỦ ĐIỂM ĐẠO CHO ĐỆ TỬ:

_ Mọi người lên tới lầu thì Ngài nói: "Người có căn nói ít hiểu nhiều, tới duyên phần xô ra nó cũng nhào vô. Còn kẻ không có căn dễ gì mà ngộ, có tu đi nữa cũng trước tu sau bỏ. Vì vậy mà huyền diệu thiếu gì nhưng không dám làm, bởi kẻ giả tu nó thấy rồi dục vọng đến cầu ; không cho thì oán trách. Cũng như kẻ lười biếng, việc làm thì không chịu cực mà muốn được vật quí. Bởi báu minh châu thì ở đáy bể, phải dày công nhứt tử nhứt sanh mới chiếm được. Việc tu hành cũng vậy, tôi nói cho biết : Sau Này Phải Cẩn Thận Dè Dặt Ẩn Tu, Chớ Khoe Khoang, Kêu Rủ Mà Có Hại, Làm Rối Cho Cơ Đạo. Đó Là Tạo Tội Chớ Chẳng Phải Lập Công."

_ Rồi Ngài nói: "Hôm nay, nam nữ có mặt cũng đông, mỗi người viết ít câu tùy ý rồi để trong bao thơ chừng cúng xong thì đốt."

_ Tất cả đều dạ, rồi ai viết theo ý muốn nấy. Chừng cúng xong đem đốt ,ai đốt rồi thì Ngài trả lời y theo ý mình muốn đó :

_ Kẻ thì than bị khảo nhiều. Ngài nói: "Bị khảo nhiều là cũng do nhiều kiếp trước tại mình tạo nhiều nghiệp quả. Tuy nay đã thức tỉnh tu hành, chớ oan gia vẫn còn vương vấn. Vậy nên vừa tu vừa lập công mà cũng vừa trả quả, nội trong một kiếp đã lưỡng toàn, nợ trả rồi, quả công viên mãn, lại được đắc Đạo thành Tiên. Ấy là điều tu tắt vậy."

_ Còn người thì muốn liễu sớm. Ngài nói: "Người xuống thế đâu phải khi không mà xuống làm gì ! Kẻ vì ngôi vị thấp, nay gặp kỳ Đạo mở xin xuống tu thêm, lập công cho đầy phước đức ,hoặc phạm luật nên xuống trả đền. Vậy phải chờ ngày nợ mãn công viên mới phục hườn và tăng ngôi vị đặng."

_ Tới đạo tỷ Minh Trình, trong thơ chị than rằng: "Nay còn Thầy đây thì mỗi việc Thầy đều biết trước mà dạy bảo. Chừng Thầy qui vị rồi thì biết liệu làm sao?"

_ Ngài cười:"Có một ông Thầy mà sợ mất, nói cho nghe: Tôi còn mang xác thịt đây thì khó, chớ chừng tôi bỏ xác về trên đó rồi thì mau lẹ, hay hơn muôn phần; đừng lo sợ, không thiệt tu. Chớ người chơn tu kêu đến danh ông Cao Đài thì có, vì Thiên Tùng Nhơn Nguyện, Cao Đài ứng hóa theo lòng chúng sanh."

_ Chừng bãi Đàn, Ngài nói: "Ngày mùng 09 tới đây tiết Nam Giao, tục gọi là vía Trời. Chừng đó phải về đây cho đủ mặt nam nữ đặng tôi sắp đặt cho".

_ Tất cả đều nghe theo rồi ai về nhà nấy

PHONG CHỨC SẮC THỬ LÒNG ĐỆ TỬ (32)

_ Đến ngày mùng 09 tháng Giêng Canh Ngọ (Năm Đạo Thứ 09), chư đệ tử vâng theo lời dạy của Quan Phủ tề tựu về đủ mặt, thiết Đàn cúng rồi nam, nữ phân đứng hai bên. Ngài đứng giữa nói: "Trong Đạo nay coi bộ cũng đông. Nếu để rộng mọi người tự do như vậy thì coi cũng lạ hơn các tôn giáo và chi phái.Thôi để tôi phong chức sắc cho, đặng chừng tôi qui vị rồi dễ làm việc, chịu không?"

_ Nam nữ đồng thưa: "Xin Quan Lớn để chúng con tự xét mình mà sửa, anh trước em sau noi theo gương lành của Quan Lớn mà hành Đạo. Chớ chúng con không ham chức sắc."

_ Ngài vỗ tay mạnh cười lớn: "Lành thay! Lành thay! Nếu được vậy thì cơ Đạo Vô Vi của Ta sẽ được bền vững. Thôi, không chịu chức sắc áo mão thì cũng phải ,cứ giữ y pháp luật thi hành.

-...Bởi Đạo Vô Vi Thì Vô Tướng, Vô Sắc, Vô Thinh. Cứ Lẳng Lặng Ẩn Tu, Tu Được Lâu Năm Lại Còn Phải Cố Gắng Và Khép Mình Hơn Nữa.

_ Nếu sau này trong cữa Đạo đều biết giữ y như vầy, thì có lo gì Đạo thất chơn truyền ! Mà người tu cũng thành chánh quả mãi. Người tuy tu sau mà giữ cho đúng thì cũng như người trước, được liệt vào hàng con hiền của Đạo."

_ Ngài nói xong bãi Đàn ai về nhà nấy./.

_TẠI CẦN THƠ ĐÁNH BẠC, NGÀI Ở SÀI GÒN BIẾT (33)

_ Vài tháng sau chị Minh Hồng tính đi thăm Quan Phủ nên chị cho trong bạn đạo hay để đi đông cho vui. Có một người bạn đạo nọ sinh sống trong gia đình cũng vừa đủ, nhà thì ở gần sòng bạc nên động lòng tham rồi khởi niệm quấy: "Ước gì Thầy cho mình trúng 500 đồng đặng đi Sài Gòn với mấy chị !". Nghĩ vậy liền đi đến sòng bạc đánh trúng được 500 đồng, trúng được rồi về nhà mà ý lại còn muốn nữa bèn trở lại để đánh kiếm thêm.Chẳng ngờ thâm vốn, trở về ngẫm nghĩ tại mình túi tham không đáy nên đi với mấy chị để giải buồn.

_ Vậy mà ở Sài Gòn Ngài biết, rồi Ngài kêu cô Năm Nguyệt nói: "Ngày mai bổn đạo ở Cần Thơ lên thì con cứ ngâm mấy câu này :

_ Ông Phật thì cũng muốn làm.

Thành Tiên cũng muốn,

đống tiền cũng ham".

_ Cô Năm không rõ sự gì nhưng cũng nghe lời học thuộc lòng. Quả thiệt, hôm sau ở Cần Thơ lên năm người thăm Ngài. Chừng lên ngồi ăn cơm, cô Năm coi ăn đi tới, đi lui cứ ngâm mấy câu đó hoài. Ông ta nhột mới khai thiệt, chớ y đánh bài lén nên đâu có ai hay.

_ Quan Phủ nói: "Điều đó không nên để làm gương trong cữa Đạo. Vì cổ kim không có ông Tiên nào cờ bạc mà thành, chỉ có tu mới đắc".

_ Người ấy đứng lên chắp tay xin lỗi.

_ Ngài nói: "Người khởi đầu thì cũng đáng tội, nay có dịp này tôi mới nói ra: đạo hữu phải nhắc nhở lại cho người sau khỏi sai lầm thì cũng trừ lỗi được nhưng không nên tái phạm". Ông ta dạ lia lịa, từ đó gặp bạn đạo nào cũng kể lại lỗi của mình rồi khuyên đừng bắt chước như vậy./.

_ QUAN PHỦ DẠY MINH HỒNG CẤT AM TU (34)

_ Ít tháng sau thì thân mẫu của chị Minh Hồng thọ bịnh rồi từ trần cũng trong năm Canh Ngọ, mai táng tại Nghĩa Địa Chiếu Minh cách chợ Cần Thơ ba cây số.

_ Nhưng chị vẫn còn ở tại am cũ gần chợ. Bà thân của chị từ trần rồi chị buồn, lớp thì bị khảo nghịch cảnh về thế sự, vì tình đời đen bạc. (Cũng như từ xưa đến nay, những bực hiền tài muốn trổ mặt ra phò nguy, tế khổn với các đấng chân tu chen vai gánh vác Đạo Trời thì hai bực này đều phải trải qua bao lần tường ngăn rào đón, chước quỉ mưu tà của kẻ thường tình thừa cơ phá hoại.)

_ Vì vậy nên chị Minh Hồng muốn tầm chốn ẩn tu để lánh dòng thế sự nhưng chưa quyết định là đi đâu. Một hôm nọ thình lình Quan Phủ xuống, Ngài không ghé Đàn Chánh mà đi thẳng vô am của chị Minh Hồng, chị Hồng chào hỏi Ngài xong.

_ Ngài nói: "Này chị Tư Huỳnh ! Đạo Ở Nơi Tâm, Ở Đâu Tu Cũng Đặng. Đợi Phải Tìm Chốn Núi Non Khuất Tịch Tu Mới Đặng Hay Sao? Muôn việc là hiếu nghĩa đứng đầu. Nay sẵn mồ mẹ an nơi nghĩa địa thì vô đó cất am vừa tu, vừa ở giữ mồ mẹ. Đó là Thiên Đạo và Nhơn Đạo đi đôi. Đừng cãi, nếu cãi thì tôi không nhìn đệ tử đó!"

_ Ngài trở ra Đàn Chánh rồi về Sài Gòn luôn.

_ Nghĩ lại lời Thầy mà chị Minh Hồng càng thêm kỉnh phục, vì mới sắp tính mà Thầy biết hết. Nếu Thầy không xuống nói cho thì mình sẽ đi đâu, rồi đời tu ra sao chưa biết. Chị liền vô cất cái am ngang nghĩa địa ở đó cho tới sau rồi mới cất cái Thảo Lư. (Là Tổ Đình hiện bây giờ)

NGHE PHỎNG LỜI THẦY MÀ ĐEM HẾT CỦA TIỀN LÀM CÔNG QUẢ (35)

_ Nhắc lại anh Nguyễn Văn Huỳnh từ khi cất xong cái Đàn Chánh cho đến ngày gặp Quan Phủ Ngô Minh Chiêu chứng nhận cho anh làm chủ Đàn, và Ngài có nói với mấy người trong đạo rằng: "Anh Tư Huỳnh tu chừng nào hết hai tủ bạc thì thành đạo".

_ Cách ít lâu Minh Huỳnh nghe lóng được lời Quan Phủ thì anh lại càng kỉnh phục Quan Phủ hơn nữa. Vì mình có hai tủ bạc, trừ ra vợ con chớ có ai biết được; vậy mà Quan Phủ mới xuống có ít lần mà biết rõ như vậy. Nên anh mới xuất hết tiền của ra hộ đạo và bố thí đủ điều, xong rồi anh cất thêm một cảnh chùa tại Rạch Sỏi để tiếng cho bên Phổ Độ thuộc cơ Tiểu Thừa. Phần còn lại anh đã mua sở đất và xây cất Tổ Đình kỳ nhứt. Anh Minh Huỳnh làm công quả hai năm hết hai tủ bạc. Bởi anh bận làm công quả cùng sắp đặt việc gia đình nên vợ của anh là chị Nguyễn Thị Hường tu trước. Nay anh được rảnh rồi nên lo việc tu hành. Anh đến cầu Quan Phủ học Đạo. Ngài vui và nói : "Người ra tu mà công đức đủ đầy, ráng gìn tánh thiện thì có lo gì không thành !"

_ Nói xong Ngài vô trước Thiên Bàn chứng cho anh Huỳnh lập lễ cầu nguyện với Đức Thượng Đế và lập Đại Thệ, Ngài truyền Đạo cho anh Huỳnh. Chừng ra ngoài Ngài nói: "Hồi chưa tu thì còn tục tánh chẳng nói làm chi, nay đã thệ nguyện học Đạo rồi thì lòng phàm ráng dứt, tánh cũ khá chừa. Được vậy, mới đúng là người xuất thế. Chớ Nếu Lửa Lòng Cháy Mãi Thì Rừng Công Đức Đâu Còn, Rồi Lấy Gì Làm Gương Cho Hậu Thế !"

_ Anh Huỳnh tự biết mình còn tánh nóng, Quan Phủ thương nên mới dạy kỹ như vậy. Anh liền chắp tay nói: "Tôi xin nhớ lời, từ đây quyết cải sửa". Rồi anh Huỳnh ở tại Đàn Chánh lo tu, còn đạo tỷ Minh Hồng thì ở trong cái am ngang nghĩa địa.

- ĐỘ ÔNG HỘI ĐỒNG BÙI QUANG HUY (36)

_ Đây nói về ông Hội Đồng Bùi Quang Huy ở Cái Vồn:

_ Ông Bùi Quang Huy ở An Trường - Cần Thơ,văn hay võ giỏi,tánh tình hào phóng. Thời Pháp thuộc mà ông dám đánh quan Kinh Lý Pháp vì tội hống hách, hà hiếp dân lành.

_ Ngoài ra ông Huy còn là người nhơn đức, có tâm từ thiện đối với tá điền, rất dễ dãi, hay bố thí giúp kẻ nghèo, thí thuốc cho người bệnh hoạn. Ông Huy có quen biết Quan Phủ : Có vài lần ông Huy đến nhà Quan Phủ chơi, gặp bữa Ngài dọn cơm chay mời ăn, khi tới giờ công phu thì Ngài bảo ngồi đó đợi. Ông Huy ngồi chờ cả giờ, không biết ông cúng gì lâu quá ! Không nghe đọc kinh, để ý coi thì không thấy chuông mỏ gì hết, mà cũng không biết ông tu theo Đạo nào. Ông tính để có dịp hỏi thăm coi Ngài tu vào Đạo nào?

_ Về phần ông Huy thì cũng mộ Đạo, hay tầm kinh sách, hiểu nghĩa lý cũng nhiều nhưng chưa quyết định vào Đạo. Ngày nọ,ông Huy muốn lập cái nhà máy xay lúa,muốn mua mà không biết hiệu máy nào tốt. Ông nhớ lại là có quen với Quan Phủ Chiêu,vậy trước lên thăm ông,sau cậy nhờ ông đến hãng mua giùm cái máy thì chắc khỏi lầm.

_ Công việc sắp xếp xong xuôi, ông Hội Đồng Huy với người tài xế đi Sài Gòn, đến nhà Quan Phủ sớm. Bước vô nhà, chủ khách chào hỏi. Ông Huy thấy Quan Phủ mặc áo bà ba, ông nói: "Tôi lên thăm Quan Lớn và nhờ Quan Lớn giới thiệu giùm tôi với chủ hãng cho tôi mua cái máy chà lúa."

_ Ngài nói: "Được ! Vậy ông đi trước rồi tôi sẽ đến sau."

_ Ông Huy lên xe đi liền. Xe chạy vừa tới hãng thì thấy Quan Phủ mặc áo dài khăn đóng, đứng trước sân cười và nói: "Tôi nói rồi, ông vô lựa mua đi !"

_ Ông Huy lấy làm lạ đứng nhìn xuống suy nghĩ: "Xe mình chạy lẹ, theo lẽ thay bộ đồ chưa rồi mà Quan Lớn đi bằng cách gì mà lẹ quá vậy?".

_ Ông Huy đang lẩm bẩm trong lòng thì Quan Phủ cười: "Nếu chưa mua thì trở lại nhà tôi chơi, ngày mai sẽ mua rồi về luôn cũng được."

_ Ông Huy: "Dạ". Rồi mời Ngài lên xe.

_ Ngài nói: "Ông về trước, tôi còn bận chuyện ở đây một chút."

_ Ông Huy lên xe về trước,vừa tới nhà bước vô thì thấy Quan Phủ đã thay đồ rồi bước ra làm cho ông Huy sửng sốt tưởng mình như giấc chiêm bao. Ông suy nghĩ rằng: "Chắc Quan Phủ đi bằng Nhị Xác Thân mới lẹ như vậy. Có lẽ mình có căn tu nên mới được ông cho thấy cái mầu nhiệm như vậy, nếu không tu còn đợi chừng nào ?"

_ Quan Phủ mời ông Hội Đồng Huy uống nước, ông Hội Đồng Huy vừa uống vừa suy nghĩ rồi nói: "Thưa Quan Lớn, tôi cũng hữu phước được Quan Lớn từ bi lộ máy huyền vi hóa độ. Tôi thành thật cảm đội ân dày, nay tôi không tính việc làm ăn nữa mà quyết chí theo Quan Lớn tu hành. Xin Quan Lớn hồi giùm tôi không mua cái máy !"

_ Ngài nói:"Tôi có nói gì đâu mà hồi !". Rồi Ngài tiếp: "Nếu không tu thì trễ vì có tiền căn hứa hẹn nên tôi phải cho biết mà tu."

_ Ông Huy xin về sắp đặt việc gia đình. Khi về đến nhà ông thuật chuyện mà ông đã đến với Quan Phủ cho cả gia đình nghe. Từ đó vợ con ông đều tu hết.

_ Lúc ấy ông có nuôi mấy ao cá, ông bảo thả hết, có người trong thân quyến nói :"Không ăn thì bán, thả đâu uổng vậy !"

_ Ông Huy nói:"Bán lấy tiền ăn thì cũng là ăn gián tiếp, không giết mà biểu người ta giết thì cũng như mình giết. Như vậy sao gọi là tỉnh giác ngộ?". Ông thả ra, cá lội vởn vơ, trông thấy rất vui. (Bởi Vậy Thầy Dạy Người Tu Đừng Nuôi Sanh Bán Tử.)

_ Vậy Có Thơ Rằng: Chim sổ lồng, cá đặng gặp sông. Bốn phương Trời nước tự nơi lòng. Như người mắc phải vòng lao lý. Phúc đặng ngao du rất phỉ lòng.

_ Ông Huy phát nguyện trường chay rồi lo việc thờ phượng, đến tháng giêng năm Mậu Thìn (1928) thì ông lên Sài Gòn cầu Đạo.

_ Quan Phủ nói: "Cá nuôi ăn không có tội mà thả thì lại có phước lớn".

-...Ông Huy càng kỉnh phục vì đâu có ai nói mà Ngài biết. Sau đó Quan Phủ lập lễ xin keo và chỉ Đạo cho ông Huy ,ông tu luôn cho tới ngày liễu đạo. (Về sau ông Huy đắc quả là HUỆ MẠNG KIM TIÊN, vợ là Trương Thị Mọn cũng chứng quả NGỌC BỬU TIÊN NƯƠNG.)./.

QUANG PHỦ ĐỊNH LIỄU TẠI TRÀ LƠN (37)

_ Nhắc lại đạo tỷ Minh Hồng từ khi vâng lịnh Quan Phủ cất am đơn giản ở giữ mộ phần cho mẹ, dự định rằng ít năm mãng tang rồi sẽ chỉnh lại. Đến nay mới vừa xả tang thì được tin trên Sài Gòn Quan Phủ trong mình không đặng khỏe, Ngài tính lên núi Trà Lơn ở đó luôn.

_ Các đệ tử ở Cần Thơ nghe vậy lo sợ, bối rối không biết tính làm sao, vì từ Cần Thơ lên đến núi Trà Lơn thì đường xa cách trở. Ai nấy đêu nhìn nhau mà ứa lệ. Đạo tỷ Minh Hồng nói: "Thôi quí đạo hữu đừng buồn, ở nhà lo sửa soạn trong am tôi cho sạch sẽ, để tôi lên Sài Gòn tùy cơ thỉnh Thầy về đây cho gần đặng dễ bề tới lui chăm sóc". Trong bổn đạo tỏ lòng mừng, đồng chúc cho chị được như nguyện.

_ Chị Minh Hồng khi tới Sài Gòn, bước lên lầu thấy Ngài ngồi trên ghế thần lực đủ đầy, nhưng kém sức khỏe hơn mọi khi. Minh Hồng chắp tay: "Thưa Quan Lớn, tôi nghe Quan Lớn trong mình không đặng khỏe. Nay trong đạo có đến chuẩn bị trong am tôi rồi. Vậy xin thỉnh Quan Lớn xuống ở ít lâu, chừng hết sẽ về !"_Ngài nói:"Tôi sắp đi Trà Lơn liền bây giờ."

_Chị Minh Hồng không dám nói nữa, đành thưa:"Xin Ngài cho đi theo !"

_Ngài nói: "Đi thì sửa soạn cho lẹ !". Rồi Ngài kêu người tài xế lên xe chạy liền, làm cho chị Minh Hồng với vài người đạo hữu và người con của Ngài lên xe đi, không kịp mua món gì đem theo hết.

_Xe chạy tới Châu Đốc thì Trời đã tối, chị Minh Hồng cố ý đi theo là để chờ cơ hội gay trở mà thỉnh Ngài về, nên nói:"Thưa Quan Lớn, tới đây đã tối rồi biết tính sao !"

_Ngài nói:"Tôi đã định đi núi Trà Lơn mà tính sao gì?".

-...Khi xe chạy lên tới núi cũng hơi khuya. Người tài xế nói: "Thưa ông ! Chờ sáng sẽ lên, bởi chỗ này là pháo đài của nhà nước sợ có ngăn trở chi chăng?"_ Ngài nói :"Cứ việc lên !"

_ Người tài xế không dám cãi. Chớ con đường dốc đổ, ở ban ngày còn khó chạy lên, mà Ngài bảo lên thì người tài xế chỉ có kềm tay lái cho ngay. Xe chạy có hơi gió bên tai, đó là có Thánh Thần phò hộ. Nếu không thì chắc xe bị lật.

_ Chừng xe lên gần tới thì lính gác trên pháo đài nhìn thấy đèn xe,họ nghĩ là chắc các quan có việc nên lên tối. Rồi họ đốt đèn đi tiếp rước. Khi xe lên đến nơi, mấy người lính gác hỏi, chị Minh Hồng nói:"Quan Phủ đi hứng gió.". Mấy người lính gác đến chào mừng Ngài.

_Ngài nói: "Cám ơn!". Mọi người cùng Quan Phủ ở đây cho đến sáng.

_Sáng ngày ,Ngài bảo:"Thôi trở xuống !"

_Minh Hồng hỏi:"Thưa,Quan Lớn đi đâu nữa?"

_Ngài nói: "Đi một chút rồi bỏ tôi xuống đó. Còn mấy người về.". Khi xe chạy xuống một đỗi thì Ngài biểu ngừng xe lại. Tài xế ngừng lại, Ngài bước xuống và nói : "Thôi bỏ tôi ở đây, còn mấy người về đi !"

_ Minh Hồng nói: "Thưa, Quan Lớn ở đây thì chúng tôi cũng ở nữa."

_ Ngài nói: "Nếu ở thì đốn cây cất cốc đi !"

_ Chị Minh Hồng cùng với mấy đạo hữu đốn cây mà không có dao búa gì cả, rồi lấy dao nhỏ mà cứa, cứa không đứt.

_ Ngài nói: "Làm lôi thôi coi bộ như không muốn đốn, thôi về cho rồi !"

_ Minh Hồng:"Thưa Quan Lớn, vậy chớ về đâu?"

_ Ngài nói: "Về Cần Thơ."

_ Minh Hồng:"Dạ !". Rồi mấy người kia lên xe, không kịp xách guốc. Chị nghĩ thầm :"Mình còn hơn được báu vật". Lòng mừng khấp khởi.

_ Chừng xe chạy về tới Cần Thơ đi ngang qua chùa của ông Hội Đồng Thơm cất. Minh Hồng hỏi: "Thưa, Quan Lớn xuống đây được không?"

_ Ngài nói:"Không."

_ Rồi xe chạy tiếp, chị cũng thưa :"Tới Đàn Chánh rồi !"

_ Ngài nói: "Vô trong am chị ở đỡ ít ngày rồi đi."

-...Cô Năm là con của Ngài hỏi: "Thưa, cha đi đâu nữa?"

_ Ngài nói: "Cha đi bí mật."

_ Chị Minh Hồng nghe Ngài nói đi nữa thì có ý hơi lo. Chớ không biết đi đâu gọi là đi bí mật.

_ Chừng xe chạy tới am của chị Minh Hồng, thỉnh Ngài vô am Ngài nghỉ tại đây nhằm ngày mùng 06 tháng 03 năm Nhâm Thân (Năm Đạo thứ 12). Trong đệ tử hay tin Ngài về đây đều đến thăm Ngài.

_ Ngài ở đây mà cái am của chị Minh Hồng có phần chật hẹp. Nên đạo huynh Minh Huỳnh thưa với Ngài xin cất một cái nữa cho rộng, đặng trong đạo hữu tới có chỗ ở.

_ Ngài nói:"Có cất thì cất cho giản tiện, gọi là Thảo Lư, lợp bằng lá. Vì tôi không có ở lâu, nếu kịp trong bảy ngày thì cất bằng không thì thôi."

_ Đạo Minh Huỳnh lo cất Thảo Lư trong ít ngày thì xong, rồi thỉnh Ngài qua ở.

- MINH HỒNG CỐ CHẤP QUAN PHỦ HÓA THÂN HÒA THƯỢNG (38)

_ Nói về đạo tỷ Minh Hồng lúc trước có theo Đạo Phật mà tánh ghét những hòa thượng làm sai Phật Pháp. Chị cho đó là những người lợi dụng kinh sám.

_ Khi thân phụ của chị qua đời, trong thân quyến muốn rướt thầy để tụng đám thì chị không chịu, chị nói: "Như ở thế gian một người có tội, bị quan làng bắt. Trong gia quyến muốn cầu xin, cũng phải lựa người có uy tín, hiền lành đến xin thì quan làng mới niệm tình mà tha thứ cho. Còn việc cầu siêu là điều thận trọng, phải có bực cao tăng chay lạc mới xứng người đến trước bàn Trời Phật mà tụng kinh rỗi tội.

_ Mà con cháu còn phải cúc cung tận tụy cho hết lòng mới cảm động tới Bề Trên xá tội cho. Chớ người còn ăn thịt cá thì cũng đồng tội lỗi, rước đến cầu xin cho ai được !"

_ Sau có mấy hòa thượng nói ăn chay cũng lâu nên chị tính rước đên cầu siêu, chừng rõ lại là ăn mặn. Từ đó chị càng buồn thêm nữa, gặp bất cứ là hòa thượng nào thì chị cũng lánh mặt. Đến chừng chị ngộ Đạo Cao Đài, nghe Quan Phủ giảng giải về việc cầu siêu với Minh Huỳnh thì chị lại càng buồn cười cho các thầy nữa.

_ Ngày nay Quan Phủ yếu được chị rước về am, trong bổn đạo đến thăm đông đúc. Nhằm lúc bổn đạo về hết, bữa đó trời mưa lâm râm, Quan Phủ ngồi trên ghế đằng trước, còn Minh Hồng ở nhà sau, Ngài kêu: "Đạo Minh Hồng đâu?

"_ Chị Minh Hồng liền đi ra, Ngài kéo ghế nói: "Thôi người ta về hết, Minh Hồng ngồi đây đàm đạo nghe coi!". Chị Minh Hồng hết vía, biết nói gì với ông Tổ đây !

_ Sau đó chị thấy bóng người, chị ngó ra thì thấy ông hòa thượng đầu không nón dầm mưa vô tới. Chị đứng dậy đi tuốt ra sau thì chị nghe Ngài nói: "Ông hòa thượng ngồi đó!". Chị liếc thấy ông thầy lại ngồi, chớ không nghe nói gì. Chị vừa tới nhà sau thì Ngài lại kêu:"Đạo Minh Hồng đâu?"

-...Chị liền trở ra vừa tới thì Ngài nói:"Làm lễ ông thầy đi !"

_ Chị lấy làm bực tức mà Thầy bảo thì đâu dám cãi, chị quì xuống nhắm mắt lạy hai lạy rồi đi tuốt ra sau, vừa đi vừa tức giận:"Ông thầy ở đâu mà đến chi vậy? "Chị mới ngó lại coi ông hòa thượng lạ hay quen mà mình lạy không nghe từ chối gì hết. Quay lại thì ông thầy đâu mất, chị liền đi ra cửa nhìn bốn phía cũng không thấy, rồi ngó vô thấy Ngài ngồi trên ghế cười: "Mắc điếm rồi, cứ giận hoài, ai xảo trá thì có luật công. Tu Hành Hơi Đâu Mà Chấp! "Chừng đó chị Minh Hồng mới biết tại mình còn tánh giận dai nên Thầy mới phân thân giả hòa thượng mà thức tánh cho mình. Công cuộc mình mắc điếm nay trên 15 năm, chòm sớm còn không hay mà Thầy biết hết. Chị liền quì xuông lạy Quan Phủ hai lạy và nói: "Nhờ Thầy thức tỉnh, từ đây tôi không giận lâu nữa". Rồi chị ra sau suy nghĩ: "Không dễ có ông Thầy như Quan Phủ, dầu ông biểu đi trong than lửa cũng đi."./.

QUAN PHỦ LIỄU ĐẠO (39)

_ Mấy người trong đạo đến thăm, Ngài nói: "Bởi sơ ý ăn của vợ chồng anh Tư Huỳnh hết mấy bữa cơm nên phải để cái xác này cho vợ chồng ảnh chôn. Vì tôi có lời nguyện hồi ở Phú Quốc chừng qui vị sẽ lên núi Trà Lơn để xác ở đó, chớ không cho ai rờ tới cái thân này."

_ Trong hàng đệ tử nghe Ngài nói cũng buồn,chớ tính Ngài chưa liễu. Vì thấy tinh thần Ngài còn đầy đủ. Khi Ngài qua Thảo Lư của ông Minh Huỳnh mới cất thì Ngài bắt đầu giảm thực. Chừng đúng Ngọ thì dâng cho Ngài một trái cam hay trái quít cũng đặng. Không biết Ngài đau gì mà cứ ngồi kêu: "Ông Cao Đài ơi, bớ ông Cao Đài đau nhứt quá !". Đệ tử Ngài thay phiên ở đó với Ngài, mà khi thức thì Ngài ngồi đó cứ kêu ông Cao Đài, khi có ngủ quên giựt mình thức dậy thì thấy Ngài ở ngoài đi vô chớ không đau gì hết. Nhưng vì Ngài bớt ăn nên hơi ốm.

_ Vì muốn biết căn bịnh của Ngài, nên các đệ tử có lập Đàn để cầu hỏi Bề Trên. Đức Thượng Đế giáng cơ dạy:

_ "Xác phàm cư tại thử xứ. Còn Linh Hồn du viễn Tứ Châu phổ hóa.

_ Đức Văn Xương cũng cho bốn câu thi:

THI:

Chung qui rồi nợ ấy tiêu diêu.

Đủ đức hạc đưa giữa nhạc thiều.

Phơi phới gót son lên chín bực.

Vui miền thanh nhã trí phong phiêu."

_ Hôm đó, Ngài kêu trong hàng đệ tử lại nói: "Từ bấy lâu học Đạo tu hành làm sao? Nay kêu hết ra ngồi trước đây, công phu coi thử !"

_ Sẵn tại đó gồm có 8 người: 2 nam và 6 nữ ra ngồi hai hàng, bốn cặp ngồi kế ngoài là:

NỮ:

1) Minh Hồng với Minh Trình.

2) Minh Luông với Minh Nghiêm.

3) Minh Lưu với Minh Nguyệt.

NAM:

4) Minh Huy với Minh Thượng.

_Tám người ngồi tu cho Ngài xem, đó là Ngài kiểm lại xem Đạo còn đúng chơn truyền hay không và cũng đúng theo lời Ngài thường nói trước rằng:"Chừng tôi sắp đi thì có Bát Tiên đưa, rồi khi tôi đi sẽ có ba người theo là đạo Minh Hồng với đạo Minh Trình với một người nữa". Chớ Ngài không nói là ai.

_ Khi công phu rồi thì Ngài vui lắm, Ngài nói: "Học Đạo tu hành gần mười năm mà một tiết cầm không sai. Đó là thương Thầy, trọng Đạo mà phước của đời sau nữa. Nếu khắp trong đệ tử trước sau mà biết giữ kỹ như vậy thì có lo gì mối chơn truyền thất lạc !"

_ Sáng ngày 11, anh Hội Đồng Thơm mua vải chở vô một xe, rồi anh lên Thảo Lư thưa cho Ngài hay :"Tôi có mua đem vô một xe vải trắng để trong bổn đạo ai có dùng thì lấy dùng."

_ Ngài nói: "Ừ được ! Gọi ai đó lại đây cõng tôi xuống lầu, tôi cho 5 đồng". Sẵn có anh Xã Trinh đứng gần đó, y lẹ làng kề lưng cõng Ngài. Chừng xuống lầu rồi Ngài móc 5 đồng bạc trả công.

_ Xã Trinh thưa: "Con cõng ông xuống chớ con không dám lấy tiền."

_ Ngài nói: "Hồi nãy chú chịu rồi. Nếu không lấy tiền thì lại đây,tôi cõng chú lên trừ lại". Xã Trinh túng quá phải lấy tiền. (Bình sanh Ngài ơn đền, nghĩa trả vẹn toàn.)

_ Rồi Ngài kêu mấy người trong đạo nói: "Anh Thơm có mua vải vô rồi đây, lại đây tôi phát cho". Có người lấy, có người không.

_ Ngài nói :"Tự ý không lấy thì thôi, chớ tôi chứng cho vợ chồng anh Thơm rồi. Còn lại cũng nhiều đem để đó". (Còn xe vải đến khi Ngài liễu lấy để tang hết mà còn thiếu).

_ Sáng bữa sau, anh Hội Đồng Huy nói với anh chị em trong đạo rằng: "Từ khi chúng ta học Đạo với Thầy đến nay, làm gì ai cũng có lầm lỗi với Thầy. Vậy thì nay Thầy còn tại thế, anh em mình đến lạy Thầy xin tội".

_Tất cả nam nữ tỏ ý vui mừng đồng đi lên lầu kẻ trước, người sau quì xuống chắp tay nói : "Bạch Thầy, từ trước đến nay chúng con cũng có điều lầm lỗi với Thầy. Nay Thầy còn tại thế chúng con đến lạy Thầy, xin Thầy từ bi thứ tội cho chúng con !".

_Ngài nói: "Thầy đại ân xá cho các con". Rồi nam nữ đồng lạy Ngài.

_Trong đêm 12 rạng 13, Đạo Minh Huỳnh có cầu cơ ngoài Đàn Chánh thì Bạch Hạc Đồng Tử giáng Đàn có dạy: "Huỳnh có công lớn với Đạo. Vậy Ta cho biết trước, rạng nhựt phải đến Thảo Lư xin tội với Đại Đức nghe ! Ta kiếu."

_ Sáng ngày 13, Đạo huynh Minh Huỳnh vô sớm, khăn áo chỉnh tề lên trước mặt Ngài quì xuống chắp tay nói nho nhỏ mà khóc rồi lạy Ngài.

_ Ngài cũng nói lại nhỏ nhỏ, không ai nghe được. Sau đó Minh Huỳnh ra về. Một lúc sau, Ngài kêu chị Minh Hồng nói: "Hôm nay anh Tư Huỳnh đuổi tôi rồi."

_ Việc này làm mọi người nhìn nhau sửng sốt ,không biết tại sao. Rồi Ngài kêu con của Ngài là cô Năm Nguyệt (1): "Hãy đi kêu xe đến đây!". Cô Năm khóc và hỏi: "Thưa,Cha đi đâu?"

_ Ngài nói: "Cha đi bí mật."

_ Nghe nói vậy mà mọi người không biết là đi đâu. Khi cô Năm đi ra, chị Minh Hồng kêu lại nói : "Không có xe."

_Chú thích:

(1) Cô Năm Nguyệt (con thứ 5 của Ngài) sau chứng quả NGỌC HÀ TIÊN NƯƠNG.

-...Ngài hỏi: "Chị Thơm đâu?"

_ Chị Thơm dạ rồi bước vô.

_ Ngài hỏi: "Chị có xe không?"

_ Lúc đó chị Thơm bối rối không biết liệu sao, nói có thì sợ Thầy đi, còn nói không thì sợ tội nói dối với Thầy. Nên cứ ầm ừ trong miệng hoài.

_ Ngài nói: "Cho không thì nói, chớ sao ầm ừ hoài?"

_ Túng thế chị Thơm phải nói có. Ngài bảo: "Thôi về kêu anh Thơm vô đây cho tôi nói chuyện."

_ Chừng chị Minh Trình bước ra thì chị Minh Hồng nói: "Tôi hết sức mời cầu thỉnh được Thầy về đây, mà người thì đuổi, còn người thì muốn cho mượn xe đặng Thầy đi. Bộ một mình chị có xe, chớ tôi không có sao?

"_ Chị Minh Trình nói: "Có mà dám nói không hay sao? Tôi cũng muốn Thầy ở nên làm thinh mới bị rầy, chị cũng nghe rồi đó."

_ Rồi chị Minh Trình về kêu anh Thơm nói: "Quan Lớn gọi !"

_ Anh Thơm đi liền, chị cũng đi theo trở vô. Còn chị Minh Hồng ra ngoài đứng đón anh Thơm vô tới, chị dặn: "Quan Phủ có mượn xe thì nói xe không có ở nhà."

_ Anh Thơm nói: "Ai dám nói dối, cái gì ông cũng biết trong tâm mình hết."

_ Chị Minh Hồng nói: "Nhờ anh nói giùm xin ông đừng đi!"

_ Anh Thơm vô tới bước lên lầu rồi quì xuống. Ngài nói:"Anh Thơm cứ ngồi". Anh Thơm với Ngài nói chuyện bằng tiếng Pháp, không ai nghe được gì hết. Đến khi dứt lời thì anh Thơm đứng dậy xá Ngài rồi về liền,nhưng thấy anh Thơm buồn lắm.

_ Một lúc sau đó thì anh Thơm rửa chiếc xe sạch sẽ đem vô tới thì Ngài đi ra xe. Ngài kêu: "Chị Tư Huỳnh, chị Thơm với anh Tư Đồng theo tôi."

_ Chị Tư Huỳnh hỏi: "Thưa ,Quan Lớn đi đâu?"

_ Ngài nói: "Đi một chút coi gốc cây nào lớn bỏ tôi xuống đó rồi mấy người trở lại."

_ Mấy chị cũng tưởng anh Huỳnh đuổi thiệt, chắc Thầy muốn về Tân An nên buồn không cho đạo Minh Huỳnh hay. Khi xe chạy đến bến phà Mỹ Thuận, xe ngưng tại cổng. Anh Tư Đồng đi mua vé qua Bắc.

_ Ngài ngồi một mình ghế trước, Minh Hồng với Minh Trình ngồi ghế sau. Hai chị cứ nhìn chừng Ngài không nháy mắt : Thấy Ngài ngồi bán già hai tay xòe ra chấp lại để ngay ngực,bỗng nhiên thấy cả châu thân của Ngài ửng vàng như nghệ. Mấy người bán đồ ăn tại phà Mỹ Thuận đi tới lui cạnh bên xe nhìn thấy Ngài da thịt vàng ửng, họ hỏi: "Ông ơi ! Ông bịnh gì mà da thịt vàng khè vậy?"

_ Ngài làm thinh, đạo tỷ Minh Trình thấy vậy sợ họ hỏi nữa nên kéo tấm vải treo bên cửa xe lại. Rồi Ngài lấy tay vén lên nói:"Tới giờ rồi sao chưa xuống phà?". Vừa lúc đó anh Tư Đồng mua vé đi đến thì cổng kéo lên,xe chạy xuống phà.

_ Chiếc phà chạy ra gần được nửa sông, hai chị sợ xe lui lại rớt xuống sông, nên nhìn xem họ chêm bánh xe có chắc không. Lúc ấy nghe người dưới phà nói:"Ông già chết rồi, mấy bà chở đi đâu vậy?"

_ Hai chị hoảng hồn nhìn lên xem lại thì thấy Ngài đã liễu rồi mà không còn chắp tay nữa. Ngài ngồi bán già,hai tay để trong lòng,tay mặt để dưới, tay trái để trên. Minh Trình nói với người lái phà: "Ông đây là Quan Phủ tức là ông Giáo Chủ mở Đạo Cao Đài. Thôi, chú trở lại giùm ! (Cũng lạ: chiếc phà này chỉ chở có mỗi một chiếc xe của Thầy mà thôi.)

_ Chiếc phà quay trở lại, xe chạy vừa lên tới bờ.

_ Đây xin nói về các đệ tử trong Thảo Lư không biết Ngài đi đâu, nên liền ra Đàn Chánh cho Minh Huỳnh hay. Anh liền lái xe nhà cùng mấy người trong đạo chạy theo vừa tới phà thì thấy xe trở lại. Anh Huỳnh hỏi: "Sao trở lại?"

_ Mình Trình nói: "Quan Lớn liễu rồi."

_ Anh Huỳnh tánh nóng la lên: "Ai biểu mấy người chở Quan Lớn đi đâu vậy? Làm cho ông liễu dọc đường dọc sá khó coi quá!"

_ Khổ cho hai chị: phần thì Thầy liễu, rồi anh Huỳnh rầy nữa nên chết điếng, làm thinh chịu chớ không nói gì được hết.

_ Nhưng có Minh Thượng đi chung xe với Minh Huỳnh nhớ mấy lời tiên tri của Đức Thượng Đế cho Quan Phủ hồi mới mở Đạo tại Phú Quốc như sau:

"Giờ Này Thầy Điểm Thâm Công,

Ngày Sau Con Sẽ Cỡi Rồng Về Nguyên.

Nên nay Thầy phải ra giữa sông Cửu Long mà liễu, đó là tiền định đúng lắm. Chúng ta mừng chớ nên rầy mấy chị !

_ Thầy đòi đi là tại hồi sáng anh vô nói gì đó! Chừng anh về thì Thầy kêu chị Tư nói: Hôm nay anh Tư Huỳnh đuổi tôi rồi. Nên Thầy mượn xe anh Hội Đồng rồi biểu hai chị đi,có mặt tôi".

_ Minh Huỳnh nói: "Ai dám đuổi Thầy, tôi muốn Thầy ở mới cất thêm cái Thảo Lư đó. Còn tôi vô hồi sớm mai đó là đi lạy Thầy xin tội, chớ nào có nói chi !"

_ Minh Thượng nói: "Vậy chắc Thầy mượn kế đặng đi. Nếu nói thiệt thì lậu Thiên Cơ, thôi để lo việc cho rồi đừng cãi nhau nữa".

_ Nói rồi đồng quay xe trở lạ Thảo Lư, đến chừng xe chạy ngang qua nhà của anh Hội Đồng Thơm thì thấy anh đứng đón đó. Xe ngừng lại anh nói: "Tôi đương đợi đây, Thầy có nói cho tôi biết hồi mượn xe mà Thầy dặn đừng lậu, nên tôi ngậm ngùi ra về rửa xe đem vô. Chớ đi thường ai rửa làm chi!"

_ Xe chạy vô tới Thảo Lư, mấy chị nói Thầy thường nói: "Không cho ai rờ tới trong mình. Vậy mình lấy vải trắng võng Thầy vô".

_ Còn Anh Thơm lo đi trình cho Quan Chủ tỉnh hay và đánh dây thép lên Sài Gòn cho trong đạo biết.

_ Khi đem Ngài vô Thảo Lư khiêng luôn lên lầu, để Ngài ngồi trên ghế giữa Thảo Lư. Kế mấy chị hái bông nấu nước tắm rửa cho Ngài, mặc đồ đại phục rồi để Ngài y như hồi mới lên trên xe.

_Từ lúc tắm rửa rồi thì sắc vàng từ từ phai hết, da thịt đổi trở lại trắng trong, mặt mày no đủ sáng rỡ coi như hồi còn mạnh khỏe vậy.

_Đây là điềm đầu tiên, mới lạ mà từ xưa đến nay chưa từng nghe thấy: Con mắt bên trái của Ngài từ từ mở ra thiệt lớn, tròng trắng, tròng đen, thần lực đủ đầy coi như hồi còn sống. Đó là Ngài mở ra một con mắt để lại cho đời lẫn đạo biết Ngài là ông Cao Đài mà Đức Thượng Đế cho thấy Thiên Nhãn và dạy Đạo ra thờ trước hết. Và có câu:

"Đạo Luyện Đắc Thuần Dương Nhứt Mục".

Còn khắp châu thân của Ngài nóng hoài, không lạnh, toàn thân Ngài không cứng.

_ Các đệ tử Ngài cứ để Ngài ngồi trên ghế, bên dưới ghế xông trầm hương cho đến ngày rằm giờ Ngọ chư đệ tử lập Đàn cầu hỏi để Bề Trên dạy ra sao.

_ Bạch Hạc Đồng Tử giáng cơ dạy:

THI:

BẠCH Ngọc ngự lâm chỉ các nơi.

HẠC khuyên chư sĩ khá nghe lời!

ĐỒNG tâm thiện niệm gìn noi dấu.

TỬ đệ khá xem chớ đổi dời.

THI:

CHIẾU soi thế giới để làm gương.

Ghi nhớ huấn ngôn tiếng tận tường.

Ngũ nhựt y kỳ sau thủ lễ.(1)

Trần gian xem thấy rõ Thiên Đường.(2)

_ BÀI:

Đường Đại Đạo khuyên người chí kỉnh.

Giữ lời vàng chớ phỉnh tiếng chi.

Hòa nhau hội đã đến kỳ.

CHIÊU hồi Thiên Thượng chép ghi nhơn hiền.

Long Hoa sẽ rõ mối giềng.

Khuyên người khá giữ lời truyền của Ta.

Giã từ Ta lại Thiên Tòa ! Nhớ lời huấn dụ sau mà rõ thông !

Chú Thích:

(1)Theo lời của Bạch Hạc dạy thì phải để xác Ngài ngồi đó đúng năm ngày mới tẩn liệm.

(2) Thì sẽ thấy rõ huyền diệu là Thiên Đường tại thế./.

LỜI DI CHÚC CỦA NGÀI (40)

_ Khi Ngài liễu rồi thì Ngài có để một phong thơ trong túi, các đệ tử mở ra xem thấy trong có 100 đồng bạc và lá thơ, Ngài dạy như sau: "Lấy số tiền đó mà xoay dùng trong cuộc an táng. Phải làm sao cho giản tiện! Nhứt là từ khước tiền đi điếu".

_ Hồi còn sanh tiền Ngài nguyện cùng Đức Thượng Đế: "Nhứt hào vô phạm". Đến khi qui liễu Ngài nhứt định không chiệu cho ai để lên bàn thờ của Ngài một số tiền mà gọi là đi lễ điếu./.

CUỘC TẨN LIỆM (41)

_ Tuy có lời của Bạch Hạc Đồng Tử dạy:

"Ngũ nhựt y kỳ sau thủ lễ. Trần gian xem thấy rõ Thiên Đường".

_ Nhưng chiều ngày rằm có Quan Thầy là người Pháp vô thấy con mắt bên trái của Ngài mở lớn, Quan Thầy lấy tay kéo mí trên cho giáp mí dưới rồi buông ra,tức thì con mắt cũng mở ra như cũ, làm như vậy ba lần mà con mắt cũng vẫn mở hoài.

_ Quan Thầy lại kéo mí con mắt bên mặt đương nhắm cho mở ra, khi buông tay thì con mắt ấy cũng nhắm lại.

_ Quan Thầy thấy điềm lạ mới bảo liệm. Trong hàng đệ tử mượn kế nói chắc Ngài còn sống lại, xin để thêm cho tới năm ngày, bởi ba ngày mà xác còn mềm nhũn không có mùi chi, xem giống như người ngủ.

_ Quan Thầy nói: "Không được ! Vì việc này mới lạ từ xưa nay không thấy. Bởi luật của nhà nước Pháp thì giáp cử phải liệm, rồi muốn để bao lâu thì để. Mà Quan Lớn nay đã ba ngày mà không có mùi gì hết, như vậy cũng đã chứng minh cho cuộc tu hành của Ngài rồi.Thôi liệm đi đừng để nữa!"

_ Bởi có lịnh của Quan Thầy nên các đệ tử lo tẩn liệm.

_Hồi còn sanh tiền Ngài có dặn: "Chừng Ngài qui liễu phải liệm ngồi". Nên Minh Huỳnh lo đóng cái Lục Giác y theo kiểu của Ngài ra mẫu,Lục Giác theo cái nghĩa của lục tự Cao Đài là: "Nam Mô Cao Đài Tiên Ông". Đường kính tâm bảy tấc hai phân. Bề cao một thước hai phân phủ bì nắp và chân. Cuộc đóng Lục Giác đâu đó xong rồi thì các môn đệ bắt đầu tẩn liệm cho Ngài

._Khi tẩn liệm xong thì trong bửu quyến của Ngài và các đệ tử có thọ chơn truyền chánh pháp với Ngài lo thọ tang cho Ngài. Chớ còn chư tín đồ thì chưa nhứt định.

_Chừng họ nghĩ lại xác của Ngài dứt hơi đã lâu mà khí sắc chẳng đổi, ngồi trên ghế tự nhiên, mới coi như người còn sống và Ngài mở ra một con mắt dương bên trái giống như Thiên Nhãn đã vẽ thờ. Nên họ nói Quan Phủ là ông Cao Đài.

_Vì lẽ đó mà phần tín đồ Cao Đài xin để tang cả mấy ngàn người.

_Đại diện các chi phái cũng cử người đến đưa tang.

_Nơi Soái Phủ cùng nhân viên nơi đây cũng có cử người đến tiễn đưa ngài.

_Còn Tòa Thánh Tây Ninh chỉ gởi dây thép chia buồn chớ không người đến tham dự lễ tang.

- ĐƯA NGÀI QUA NGHĨA ĐỊA (42)

_ Đám tang của Ngài rất êm tịnh, không lễ nhạc, không kinh kệ, vì Ngài có dặn rằng: "Lúc sanh tiền mỗi buổi Ngài có cầu kinh cho Ngài, Ngài đã biết Ngài là ai rồi, đến khi bỏ xác sẽ về đâu. Đọc kinh cầu nguyện cho Ngài là điều vô ích."

_ Khi đem Lục Giác của Ngài ra xe của Minh Huỳnh đã trang hoàng sẵn, các đệ tử chậm rãi đẩy xe đưa Thầy sang nghĩa địa. Đường đi từ Thảo Lư sang qua nghĩa địa khoảng 200 mét, mà người đưa đám rất đông, người đi xem cũng nhiều vô số.

_Có Quan Phó Tỉnh Trưởng Cần Thơ thay mặt cho chính phủ đến đưa, ông là người Pháp lấy làm lạ vì thấy cái linh cửu khác thường. Ông Hội Đồng Quảng Hạt Võ Văn Thơm mới giải thích cho ông biết sự tình này.

_Khi qua tới nghĩa địa: các đệ tử đem Lục Giác của Thầy để vô kim tĩnh đã xây sẵn vuông hai thước, có vớt bốn góc, cao một thước hai tấc. Đặt vô xong rồi thì tiếp tục xây lên thành một ngôi Bửu Tháp gồm có ba tầng: tầng 1 bốn cạnh có vớt bốn góc. Hai tầng kế là sáu cạnh thể theo lục tự Cao Đài. Và trên chót là một cái bầu.

_ Đó là xong đám tang của Ngài Quan Phủ Ngô Minh Chiêu, ông đã lập nên mối Đạo Cao Đài. Với kết quả một đời tu ẩn đã trải qua nhiều khổ hạnh. Nay được đắc thành mỹ mãn rõ ràng đã để ấn chứng cả mấy ngàn người xem thấy.

NHỮNG LỜI NGÀI HỒI CÒN TẠI THẾ (43)

_1) Đạo tỷ Minh Hồng người học Hán Văn mà Quốc Ngữ cũng biết.Ngày nọ đến cầu Thầy học Đạo, Ngài nhìn rồi nói: "Tôi sợ mấy người Nho lam nham hay chế biến Đạo pháp lắm !"

_2) Một hôm, Quan Phủ đang ngồi thì đạo huynh Minh Huỳnh tới, Ngài nói bổng như vầy: "Các bực nguyên nhân còn ở dưới trần thâm nhiễm mà bít đường về nên phải xuống mở nền Đại Đạo đem mối chơn truyền bí pháp độ hết khắp ngũ châu thế giới đồng về Tiên cảnh.

"_Minh Huỳnh nói: "Thưa Quan Lớn, sao tôi thường nghe mối chơn truyền đã mấy lần xuống thế độ đời được ít trăm năm rồi cũng lạc sai?" Ngài cười: "Đó cũng tại lòng phàm canh cải. Còn kỳ này, may ra cũng có phương pháp để giữ chặt mối chơn truyền không bao giờ xê chạy." Minh Hồng nghe nói rồi nghĩ thầm rằng: "Mình biết bí pháp là quí, thời nào cũng vừa tu vừa kiểm điểm lời của Thầy truyền mà có khi rộn việc còn quên đầu đuôi." Ngài nhìn Minh Hồng nói: "Để sau sẽ rõ".

_3) Ngày nọ có ít người đệ tử và Minh Hồng,Quan Phủ cũng nói bổng như vầy: "Đừng Có Tưởng Tu Trước Mà Đắc Cao, Còn Tu Sau Mà Đắc Thấp ! Do Nơi Cái Điểm Chơn Linh Và Hành Tu Cho Đúng Phép, Công Đức Nhiều Thì Trước Sau Gì Cũng Đắc Cao Được Hết."

_4) Ngài nói :"Người giàu thường coi cái xác thân là quí nên ít chịu khép mình hành theo qui luật."

_5) Ngài nói: "Người có căn lành dầu ở xa muôn dặm, hoặc trong hang cũng được cơ duyên chuyển đến. Còn kẻ không phần thì dầu sát vách cũng không hay. Dầu cố ý nói cho nó nghe được rồi tu ít lâu cũng bỏ."

_6) Ngài nói: "Kẻ ngơ ngáo, tai mắt không đồng tu hành cái nổi gì mà rủ? Nói bên Đông, nó hiểu bên Tây, biểu làm vầy thì nó làm khác. Đó là chác thêm sự khảo buồn chớ ích gì, như nó có ăn chay làm lành thì chờ kiếp sau."

_7) Ngài nói: "Trường tu Thượng Thừa thì người có Tiên căn Đạo cốt và người quân tử thức thời, thế mới tu được ! Bởi cơ tu ẩn nơi khuất tịch, người chơn tu lại thích chí mà vui nhàn. Còn kẻ dối thì cho là buồn tẻ, đìu hiu, có bao giờ chịu nổi đến cùng?"

_8) Một ngày nọ, Ngài vui miệng nói nhỏ với một người đệ tử, người này mới bị sắc khảo rồi chạy lên Ngài, Ngài nhìn rồi nói:"Đạo cao thì có ma cao, sắc lịch đưa đến khảo biết bao nhiêu. Mình thừa biết nó là một điều sống khổ rồi chết đọa. Nó Nói Gì Thì Mình Cứ Trối Kệ, Giả Đò Không Nghe Không Biết, Cứ Ngồi Tự Nhiên Như Tượng Đồng. Hỏi Vậy Chớ Nó Dám Lại Ẵm Đi Hay Sao? Nó Làm Hỗn Cứ Niệm Danh Thầy Thì Nó Phải Dang Xa." (Nguyên do là người này bị vợ khảo, đang ngồi tịnh trong phòng, vợ cứ đi qua đi lại hoài nên không tu được, rồi chạy theo vô phòng vợ. Chừng phạm hư thì khóc chạy lên Thầy.)

_9) Ngài nói: "Tu mà muốn biết mình đắc cao hay thấp cũng không khó. Miễn kết được Đạo Đơn rồi do theo đức tánh và nhân cách, cử chỉ của mình thì biết. Hỏi vậy có ông Tiên nào nói dối hoặc gian thâm, không lễ độ?"

_10) Ngài nói: "Sau này tới Hội Long Hoa có Thầy xuống thế một lần nữa mà Thầy biết các con, chớ các con không biết Thầy."

_ Đạo tỷ Minh Trình hỏi: "Các con không biết Thầy rồi làm sao?"

_ Ngài nói: "Cứ giữ phận lo tu, cẩn ngôn, cẩn hạnh thì khỏi lầm lỗi. Thầy biết các con là đủ rồi."

_11) Ngài nói :"Người Tu Đã Cẩn Hạnh, Mà Còn Phải Cẩn Ngôn, Bởi Lỡ Một Lời Dính Dấp Phải Ở Lại Đáp Đền Oan Trái Thì Cũng Cả Trăm Năm."

_12) Ngài nói: "Kẻ đồng bóng ,bói khoa phù chú thuộc về Tả Đạo nó có Tổ của nó, đừng đem vào chánh giáo làm rối Đạo. Nó tu cũng khó thành vì bị trì kéo."

BÀI THI TẦM ĐẠO (44)

_ THI:

Thầy dạy năm xa bỏ trọng sang.

Nghèo giàu tiền định chốn nhơn gian.

Dở hay một thuở rồi chôn mất.

Chi bằng hồ lô đựng chứa chan.

THI:

Khuyến quân học Đạo mạc tham cầu.

Vạn sự vô tâm Đạo hiệp đầu.

Vô tâm thủy thể vô tâm đạo.

Thể đắc vô tâm đạo dã hưu.

THI:

Học Đạo tiên tu thức tự tâm.

Tự tâm thẩm xứ tối nan tầm.

Nhược hườn tầm Đạo vô tâm xứ.

Phương ngộ phàm tâm tức Phật tâm.

THI:

Phật tại Linh Sơn mạc viễn cầu.

Linh Sơn chỉ tại nhử tâm đầu.

Nhơn Nhơn Hữu Có Linh Sơn Tháp.

Hóa Hương Linh Sơn Tháp Hạ Tu.



BÀI THI RĂN LÒNG (45)

_THI:

Xưa nay tu luyện lắm anh hào.

Biển sắc ,anh tài nhận biết bao!

Lấp lửng khuyên đừng gần miệng cọp!

Ăn năn đã muộn giấc chiêm bao.

HỰU:

Chiêm bao sớm tỉnh cũng nhờ Thầy.

Oan trái bên mình buộc với gây.

Một kiếp lo tu cho rảnh nợ.

Rồi sau không trả cũng không vay.

HỰU:

Không vay đắc quả lại Bồng Lai.

Oan nghiệt đền xong hưởng phước hoài.

Chín phẩm sen vàng an tự toại.

Tiêu diêu khoái lạc một lòng không.

_ Đây là một thang thuốc trị bịnh tinh thần. Con nào có bịnh thì coi theo đây mà dùng!../.

.. PHỤ LỤC

1) Những vị đệ tử đầu tiên của Thầy.

2) Thông tin trang bìa.



NHỮNG VỊ ĐỆ TỬ ĐẦU TIÊN CỦA THẦY

(1)_TIỀN GIANG:

NAM: + Minh Huấn (Đạo Đức Kim Tiên) + Minh Dương (Huyền Minh Chơn Nhơn) + Minh Lý (Viên Minh Đạo Nhơn) + Minh Nghị (Thanh Hư Đạo Nhơn) + Minh Thới (Không rõ Thánh danh). _

NỮ: +Minh Hườn (Giác Bửu Nương Nương) + Ngô Thị Nguyệt (Ngọc Hà Tiên Nương) + Minh Của (Ngọc Bổn Tiên Nương) + Minh Ngàn (Ngọc Thiện Tiên Nương) + Minh Thanh (Ngọc Thanh Tiên Nương) + Minh Huyền (Không rõ Thánh danh)

_ HẬU GIANG:

_ NAM: _ + Minh Niệm (Giác Minh Kim Tiên) + Minh Huy (Huệ Mạng Kim Tiên) + Minh Thượng (Nhứt Bửu Chơn Nhơn) + Minh Huỳnh (Thiên Môn Đế Quân).

_ NỮ: + Minh Trình (Diệu Pháp Nương Nương) + Minh Luông (Thanh Lọc Nương Nương) + Minh Hồng (Như Ý Nương Nương) + Minh Nghiêm (Bạch Bửu Tiên Nương) + Minh Mọn (Ngọc Bửu Tiên Nương) + Minh Kình (Không rõ Thánh danh).

THÔNG TIN TRANG BÌA

    (2)_ Đạo tỷ MINH HỒNG là người chủ Đàn Thánh Đức Tổ Đình ,là môn đệ trực tiếp với Thầy thuộc miền Hậu Giang.

    _ Đạo huynh CHÂU MINH ĐỊNH là người Thủ Tự Đàn Thánh Đức Tổ Đình, người trước đã qui liễu hết. Hiện nay không còn ai biết rõ đạo huynh đến Tổ Đình hành đạo hồi nào? Nhưng được biết đạo huynh đã làm Thủ Tự Tổ Đình từ thuở đạo tỷ Minh Hồng còn sanh tiền. Đạo huynh đã tiếp tục viết tiếp theo phần việc của đạo tỷ Minh Hồng viết còn dở dang quyển Tiểu Sử này, hầu để lại cho người hậu học noi gương của Thầy. Đến năm 1970 thì đạo huynh đã rời Tổ Đình cất nhà riêng ở tạm phía sau Tổ Đình, Đạo huynh là người đạo hữu trong Ban Hành Lễ của Đàn Linh Bửu. Đạo huynh liễu đạo năm Mậu Thìn (1988) và đã để lại quyển Tiểu Sử này.

HẾT./.