Đại Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ
Từ-Bi Bác-Ái Công-B́nh

Download fonts UNICODE


Cao -Đài Đại-Đạo

Lược-khảo căn-nguyên và giáo pháp
Cương-yếu

Nơi phát nguyên Cao-Đài Đại-Đạo
Đệ tử đầu tiên của Đức Cao-Đài Thượng Đế
Người khai sáng Cao-Đài Đại-Đạo
Nhị nguyên tính của Giáo-lư
Cơ Phổ-Độ (Ngoại Giáo Công-Truyền)
Cơ Tuyển-Độ (Nội Giáo Tâm-Truyền)


Cương-Yếu

Vào khoảng 1926, báo chí cùng nhà đương-quyền Pháp tại Đông-Dương đưa ra danh từ "LE CAODAISME" để gọi một Giáo-phái vừa chánh thức khai nguyên, chuyên tâm thờ phượng Đấng Thượng-Đế với Tôn-Hiệu:
Ngọc Hoàng Thượng Đế Nam Phương Giáo Chủ Cao-Đài Tiên-Ông, Đại Bồ-Tát, Ma-Ha Tát
Theo lịnh Đức Chí-Tôn, Môn Phái nầy xưng danh là "
Cao-Đài Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ", thờ "Thiên Nhản" làm biểu hiệu cho Đạo, và được đặc ân dùng Cơ-Bút (Đại Ngọc Cơ) làm phương thức để thừa tiếp Giáo Lư của Thiêng-Liêng.
Tín đồ, tùy theo tŕnh độ tu hành, hoặc thủ trai kỳ, hay trường chay, hoặc tứ thời cúng kiến, hay tứ thời tịnh luyện. Phải tự ḿnh khép vào ba phép hành tŕ:
Đối với Đạo, phải giử tṛn phận sự, ḷng thành kính trong việc phượng-thờ, đó là
Công-Tŕnh
Đối với Đời, phải tùy theo sức ḿnh, giúp đở người, chuyên lo việc từ thiện, đó là Công-Quả
Đối với bản thân, phải hằng ngày xét ḷng, trao tria tinh thần hạnh đức đó là Công-Phu.
Chế độ tập đoàn và Tu viện chưa thiết lập.
Giáo lư "Cao-Đài Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ" có khuynh hướng "chiết trung", nên dung ḥa nhưng không hợp tính:
Tiêu chuẩn nghiêm nhặt của Khổng-Nho.
Thuyết Từ-Bi và lư luận Siêu h́nh của Thích giáo.
Pháp qui đạo đức và học thuyết vô-vi của Lăo-Phái.
Luân lư nhu ḥa, cao nhă của Gia-Tô-Giáo.


Nơi phát nguyên Cao-Đài Đại-Đạo

Phần nhiều các Chi Phái chưa rỏ Cao-Đài Đại-Đạo phát tích vào khoảng 1920 tại Dương Đông, Quận-lỵ đảo Phú-Quốc, trong một ngôi chùa xưa gọi "Quan-Âm-Tự" nằm theo triều núi Dương-Đông.
Chính lúc đó tại "Quam-Âm-Tự" Đức Thượng-Đế nhiều phen khiêm xưng "Cao-Đài Tiên-Ông" giáng dạy nơi Đàn-cơ do một nhóm người nhiệt tâm với Thần-Linh-Học thường tổ chức. Trong nhóm ấy lại có Ngài Ngô-Minh-Chiêu đương thời Quận Trưởng Phú-Quốc, mà sau này sẽ là người lănh trách nhiệm khai sáng Đạo Cao-Đài.
Điều nầy rất quan trọng, nhưng rất tiếc là ít khi được ghi trong lịch sử Cao-Đài Đại-Đạo.
Sơn cảnh "Quan-Âm-Tự" đă t́m lại được, và năm 1961, ngay khuôn nền cũ, một nhóm tín-đồ thuộc Cơ Tuyển-Độ dựng lên một ngôi thờ (lấy tên một đền thờ cũ gọi là: "Cao-Đài Hội-Thánh") để kỷ niệm nơi phát nguyên Cao-Đài Đại-Đạo.

Đệ Tử đầu tiên của Đức Cao-Đài Thượng-Đế

Trong Đàn Cơ lập ngày 8 tháng 2 dương lịch năm 1921, tại "Quan-Âm-Tự" Đấng Chí-Tôn tá danh Cao-Đài Tiên-Ông, thừa nhận Ngài Ngô-Minh-Chiêu là đệ tử đầu tiên và dạy dùng 2 chữ Thầy, Tṛ mà xưng hô.
Từ đó Ngài Ngô-Minh-Chiêu chuyên lo tu tŕ khổ-hạnh, dưới sự hướng dẩn u-huyền mà hằng tại của Đức Cao-Đài Tiên-Ông trong những Đàn Cơ lập riêng. Ngoài ra, đoán theo một hai lời tiết lộ với vị Trưởng Tràng Cơ Tuyển-Độ (Ông Lê Minh Huấn (sắc phong Đạo-Đức Kiên-Tiên)), Ngài Ngô-Minh-Chiêu có lẽ thường hưởng đặc-ân được liên-lạc trực-tiếp với Cao-Đài Giáo Chủ.

Đức Cao-Đài Tiên-Ông lại dạy Ngày Ngô-Minh-Chiêu phải chọn một biểu tượng để thờ phượng.
Ngài Ngô-Minh-Chiêu bạch xin thờ Thập-Tự.
Đức Cao-Đài Tiên-Ông nói đó là dấu hiệu riêng cùa một nền Đạo đă có rồi, và dặn phải suy nghiệm mà tầm cho ra, có Tiên-Ông giúp sức.
Qua một tuần, Ngài Ngô-Minh-Chiêu cũng chưa nghĩ ra. Bỗng một buổi sáng lúc đang ngồi trên vơng tại Dinh Quận, Ngài thấy cách 2 thước lộ ra một con mắt thật lớn, chói rạng dị thường.Ngài lấy làm sợ hăi, lấy tay dậy mắt không dám nh́n, độ nữa phút, dỡ tay xem lại, con mắt cũng c̣n mà lại sáng hơn trước.

Ngài bèn chấp tay vái rằng: "Bạch Tiên-Ông, đệ-tử rơ biết huyền-diệu của Tiên-Ông rồi. Như phải Tiên-Ông bảo thờ Thiên-Nhản th́ xin cho biến mất tức th́, để vậy đệ-tử sợ lắm.".

Vái xong, con mắt lu lần lần rồi biến mất.

Tuy nhiên, Ngài Ngô-Minh-Chiêu cũng chưa thiệt tin. Cách vài ngày sau, Ngài lại thấy y như lần trước nữa, Ngài nguyện để tạo Thiên-Nhản mà thờ, th́ con mắt tự nhiên biến mất.

Thiên-Nhản thờ trong Giáo phái Cao-Đài Đại-Đạo đều họa theo như Ngài Ngô-Minh-Chiêu đă hai lần thấy đó: Mắt trái có tia sáng chung quanh.

Sau ba năm truyền dạy, Đức Cao-Đài Thượng Đế tỏ lời toại-ư về phần tiến bộ của đệ-tử đần tiên và luôn dịp cho biết Thiên-ư định giao cho Ngài Ngô-Minh-Chiêu một trọng trách là: Công việc kiến tạo nền-tảng Cao-Đài Đại-Đạo Tam-Kỳ Phổ-Độ.

Người khai-sáng "Cao-Đài Đại-Đạo"


Cuối hạ năm 1924, Ngài Ngô-Minh-Chiêu được lịnh Chánh-phủ đổi về Sàig̣n. Về đây không bao lâu, Ngài mở đầu nhiệm-trách thiêng-liêng của ḿnh, bằng việc điểm-đạo một số đệ-tử cấp nhứt thuộc "Cơ Nội-Giáo Tâm-Truyền" doNgài bổn thân điều-khiển cho đến ngày nay, bao năm sau khi Ngài qui-liễu.

Qua năm 1925, từ tháng 7 dương lịch đến tháng 2 năm 1926, một nhóm người dang tập cầu-cơ ở Sàig̣n, được lịnh Đấng Chí-Tôn, đến tiếp-xúc với Ngài và nhờ Người chỉ bảo, để chuẩn bị việc khai-nguyên Cơ Phổ-Hóa của Cao-Đài Đại-Đạo.
Lúc đó Đức Cao-Đài Thượng-Đế có dặn: "Mọi việc phải do nơi CHIÊU là Anh Cả". Nhóm nầy có Quư ông Vương Quang-Kỳ, Lê-Văn-Trung, Cao-Quỳnh-Cư, Phạm-Công-Tắc, Cao-Hoài-Sang, Nguyễn-Trung-Hậu,..., là những người sau nầy đứng ra sáng lập Ṭa-Thánh Tây-Ninh Đàn mùng 1 Tết Bính-Dần (13-2-1926) Đức Thượng-Đế lại dạy Quư-vị trong nhóm nầy rằng
: "Chư đệ-tử nghe: CHIÊU - Buổi trước húa lời truyền đạo cứu vớt chúng-sanh nay phải y lời mà làm chủ mối đạo, d́u-dắt cả môn đệ TA vào đường đạo-đức đến buổi chúng nó thành-công, chẳng nên tháo-trúc. Phải thay mặt TA mà dạy dổ chúng nó".
Kế khoảng đầu năm 1926, một nhóm khác cũng đến tiếp xúc với Ngài Ngô-Minh-Chiêu. Trong nhóm này có Quư ông Nguyễn Ngọc Tương, Lê Bá Trang là người sau này kiến tạo Ṭa-Thánh Bến-Tre (An-Hội) Ban Chỉnh-Đạo (1934). Trần-Đạo-Quang là người điều khiển Ṭa-Thánh Ngọc-Minh Bạc-Liêu (Giồng-Bướm) Phái Minh-Chơn-Đạo (1928). Phối Sư Thái-Ca-Thanh Ṭa-Thánh Mỹ-Tho phái Minh-Chơn-Lư (1930).
Và độ nọ nhơn ngày Đại lễ Phật-Mẫu năm 1954, người ta không lấy ǵ làm lạ khi nghe Ông Phạm-Công-Tắc giới thiệu con trai của Đức Ngô-Minh-Chiêu cho mấy vị chức sắc lớn ở Ṭa-Thánh Tây-Ninh bằng câu nầy: "Đây là con trai của Đức Ngô-Minh-Chiêu, Giáo-Chủ Đạo Cao-Đài.


Nhị nguyên-tính của giáo-lư

Có nhiều chi-phái chưa lănh-hộ rơ-rệt điều nầy: đó cũng là một khuyết điểm cần điền-bổ.
Thực ra, như các Tôn-giáo ngày xưa trong thời-kỳ sơ-khai, Cao-Đài Đại-Đạo cũng có 2 Giáo Pháp:

Cơ Phổ-Độ thuộc Ngoại-Giáo Công-Truyền
Cơ Tuyển-Độ thuộc Nội-Giáo Công-Truyền.Hai cơ quan nầy chẳng những không di luận, không mâu-thuẫn nhau, mà lại c̣n tiếp nối nhau, v́ đây là 2 giai-đoạn, mở dầu và chung tất, trong đường diễn-tiến của đạo-pháp:


Cơ Phổ-Độ hay Ngoại-Giáo Công-Truyền hay Tiểu-Thừa Tiệm-Giáo
(Không có tính cách "bảo thủ" như Cơ Tiểu-Thừa Phật-Giáo)

Ngoại-Giáo Công-Truyền có trách nhiệm truyền bá, tiếp xúc ngay với đại chúng, và gồm có một hệ thống Thánh-Thất trang nghiêm nghi-lễ long-trọng, mấy cấp bực chức sắc, lại có tổ chức một phần do theo khuôn mẫu cơ quan hành chánh.Cơ Phổ-Độ lo lắng phần hóa dưỡng đạo-âm của tín-đồ mới nhập môn, chỉ vẽ, kiểm-đốc việc hành tŕ của bổn-đạo. Ngoài ra c̣n đảm nhiệm phần giao-tế với Đời.
Đối với tín-đồ, đường siêu-thoát do chỗ thành-tâm hạnh đức của ḿnh và phải nhờ có ân-thiên điểm-hóa.


Cơ Tuyển-Độ hay Nội-Giáo Công-Truyềnhay Đại-Thừa Đốn-Giáo
(Không có tánh cách "phổ-hóa" như Cơ Đại-Thừa Phật-Giáo)

Cơ Tuyển-Độ không có Thánh-Thất, chức-sắc, nghi-lễ long trọng, tổ-chức về mặt hữu h́nh. Toàn thể môn-đồ đều do Đấng Chí-Tôn tuyển-chọn, sau một thời gian chuẩn bị nghiêm túc.
Dầu là bực nào trong xả hội, hễ sau khi được dung-nhận rồi th́ theo lời nguyện của ḿnh, không c̣n quyến-luyến hồng-trần, vinh-hoa, phú-quư, phải từ bỏ những vui sướng trên Thế, để sống một nếp thanh-đạm, theo luật Đạo.

Bề ngoài không biểu lộ một dấu chi khác thường, nhưng bên trong, hằng bữa phải đều đều, sáng suốt, công-phu tịnh-luyện đúng phép "tánh-mạng song-tu", để lần lần đến chổ "diệt-ngă" mà qui về Đạo mầu, là cảnh hư-vô tuyệt-đối.