Chào mừng Cao Ðài Ðại Ðạo  
  Cao Đài Đại Đạo Trang Nhà Thư Viện Hình Ảnh  
Mục Lục
· Trang Chính
· Thuyết Trình
· Sưu Tầm
· Thi Thơ Đạo
· Bài mỗi tháng
· Các chủ đề
· Bài cũ
· Quyển sách
· Thánh Giáo
· Tủ sách
· Tôn Giáo Bạn
· Hoán chuyển font

Lý Đạo

Tốt hơn ta nên khởi sự làm trước rồi sẽ nói sau, nhưng thường thường hành động và giữ im lặng là hay nhứt.

-- G.S. ARUNDAL

Bài cũ
Ngày: 08/10/2011
·Chơn nhơn (0)
·Vào đời độ chúng lập công (0)
·Sống Đạo (0)
·Chiến thắng vạn quân không bằng tu chiến thắng mình (0)
Ngày: 05/3/2010
·Phân ưu - Đạo huynh Chế Thuần Nghiệp (0)
·Chánh Trị Sự Chế Thuần Nghiệp (0)
Ngày: 27/2/2010
·Kỷ niệm ngày Đạo-Đức Kim-Tiên qui vị (0)
Ngày: 04/1/2010
·Phát hành Bộ Lịch Cao Đài (0)
Ngày: 10/12/2009
·Chỉ tốn ít công phu tập luyện (0)
Ngày: 04/12/2009
·CƯ TRẦN NHIỄM TRẦN (0)
 Bài viết Cũ

Sách Giáo Lý
09 Phải xem kinh thế nào ?
08 Phải xem kinh sách, luật lệ
07 Điều lệ hầu đàn
06 Phải năng hầu đàn
05 Phổ Thông Thiên Đạo
04 Đối với người ngoại giáo
03 Người trong Đạo
02 Giữ Đạo
01 Lời tựa
07 Ta phải cần khổ hạnh mới mong thành Đạo

Sưu Tầm

Thương Yêu là cái gì thuần khiết, du lưu trong mọi thời không, trong mọi sự kiện, chớ không phải tôn ngôi thương yêu lên Thần Thánh cách biệt con người và vạn loại

-- Đức Jesus

Bài được đọc nhiều nhất
Ðược đọc nhiều nhất
·· Lời tiên tri của Đức ...4868 lần đọc
·· TRIẾT LÝ VỀ ĐẠI HỘI...2082 lần đọc
·· Hội Thánh Cao-Ðài Cầu ...1487 lần đọc
·· Học công phu1341 lần đọc
·· Tâm thư1294 lần đọc


Website Cao Đài
*Chánh Tuân
*Hội Thánh Cao Đài Tây Ninh
*Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý
*Thánh Tịnh Long Thành
*Hội Thánh Cao Đài Ban Chỉnh Đạo
*Nhịp Cầu Giáo Lý
*Đàn Bửu Minh
*Cao Đài Giáo Hải Ngoại
*Caodai de l’Europe
*Thiên Lý Bửu Tòa
*Cao Đài E-Book
*Sydney center for Studies in Caodaism
*Học Đạo Cao Đài
*Tâm Duyên

Tứ Ân Chánh Đạo, Tứ Hiếu Tùng Ân
Đăng ngày (19/12/2012) - 10:39 PM bởi admin

Đề tài thuyết trình

TRIẾT-LUẬN

TỨ ÂN CHÁNH ĐẠO
TỨ HIẾU TÙNG ÂN

·        Màu sắc thì nhiều, tâm nhận biết có một.
·        Tôn giáo thì nhiều, Chân Lý Đạo có một.
Biết và Hành, muốn giải thoát thì phải qua con đường nầy để đến được tri giác và toàn giác, gọi là “ biết “ thì không thể bỏ hai yếu tố quan trọng đó là “ Học-Hỏi “.



Học để giúp Linh hồn tiến hóa,
Hỏi để tường vàng, đá, chì, thau.
          Biết là tri giác tâm bào,
Hành y Pháp chánh Thầy trao tứ tùng.
          Trong Đại Đạo tứ ân Thầy dạy,
Phải thuận tùng Thiên Địa, Tổ Tông.
          Sư Thầy, Cha Mẹ hiếu đồng,
Quân Vương, Sanh chúng thọ công đáp đền.
          Còn dương thế chớ quên bậu bạn,
          Chữ nghĩa tình chẳng cạn đổi dời.
                   Thân bằng, Huynh Đệ tín lời,
Ân sanh tứ vẹn, thảnh thơi Linh Hồn.

Hàn sĩ xin mạn phép làm sáng tỏ về Tứ Ân :
-         Nhất ân : Thiên Địa, Tổ Tông gọi là Hiếu tùng.
-         Nhị ân : Sư Thầy, Cha Mẹ gọi là Hiếu kính.
-         Tam ân : Quân Thần, Đồng bào gọi là Hiếu thuận.
-         Tứ ân : Thần bằng Huynh Đệ gọi là Hiếu thành.
Hiếu tùng, Hiếu kính, Hiếu thuận, Hiếu thành gọi là “ Tứ Hiếu Tùng Ân “

LUẬN GIẢI CHỮ HIẾU :
Là cảm tưởng bên trong được un đúc đến chí thành, hiện thân của Hiền, Thần, Thánh, Tiên, Phật. Đó là “ Thiên phú ư Thánh “ . Đạo gọi tánh thiện, toàn tri, toàn giác, chí thiện, chí mỹ, chí linh, xuất tánh chi Đạo. Hiếu Đạo cũng là Phật Đạo.
Tùng, Kính, Thuận, Thành; là thuộc về “ Lộ tướng xuất tình chi niệm”, chạy theo trần cảnh của thể xác luân hồi vay trả. Có vay phải có trả. Khi xuất đã vay mượn huyết dịch của ông bà, cha mẹ, đã vay mượn điểm Chơn Linh âm dương của Thiên Địa, vay mượn vật chất của Người áo cơm để sinh tồn, do đó kiếp người đến: Vay và trả.
Vay một, trả mười : Giải thoát.
Vay mười, trả một : Luân hồi.
Theo quy luật của vũ trụ, luôn luôn hiện hữu, trưởng dưỡng hỗ tương, tương quan mật thiết, đó gọi là Âm Dương Thiên Địa.
Tổ Tông, Ông Bà thuộc Thượng Thiên, thuộc về thân quá khứ, đối phẩm Thánh, Tiên, Phật.
Còn cõi Trung Thiên: Quân Thần, Phụ Mẫu, Sư Thầy thuộc về thân hiện tại, đối phẩm Thánh, Hiền, Thần .
Cõi Hạ Thiên: Thân bằng, Huynh đệ thuộc vị lai, đối phẩm Hiền nhơn, phàm phu “ nửa thú, nửa người “, vì thế hàn sĩ xin thuận tùng theo quy luật, quy căn giải lý theo hai thể :
-   Hữu thể : Luận văn tầm lý của Tôn giáo đại đồng “ nhập thế “.
-   Vô thể : Kiến chơn đoạt lý của Đại Đạo siêu phàm nhập Thánh “ xuất thế “.

I-      HỮU THỂ : TỨ ÂN TRONG TÔN GIÁO .

1-    Hiếu tùng Thiên Địa, Tổ Tông : Ân “ Thượng Thiên “.
Tại sao ta phải hiếu thuận với Thiên Địa, Ông Bà ?
Có lẽ quý vị đã rõ, hàn sĩ nhận thấy có nhiều người trong chúng ta chỉ thiên lệch một hướng bên nầy hặc bên kia, thế không đúng theo tông chỉ của Thầy : Trung dung Đại Đạo.
-   Luận Thiên : Là Đại Linh Quang, đó gọi là Trời hay Thượng Đế mà Đại Đạo Kỳ Ba gọi là Thầy, Cha Linh hồn. Cái Linh hồn hiện hữu trong thể xác ta, đó là Tiểu Linh Quang, con Thượng Đế Cha Trời, có công sanh.
-   Luận Địa : Bốn mùa, bát tiết, ngũ cốc, bách hồn để cung phụng cho cái người xác thịt. Muốn có một tinh thần mạnh khỏe thì phải có một thân thể tráng kiện.
Nếu có Linh hồn mà không có thể xác nan thành. Có thể xác mà không có Linh hồn thì như thực vật.
Vậy xác và hồn mật thiết với nhau trưởng dưỡng gọi là hình bóng Âm Dương
“ Thiên Địa “, Cha Trời, Mẹ Đất, đó là nguồn cội của “ Cái con người”: Cái người thể xác, Cái người Linh hồn.
-   Luận Ông Bà :
+ Ông Nội Tổ thị Càn Khôn
                                           } Ông Bà Tổ Tông
+ Bà Ngoại Tổ thị Càn Khôn
Là hiện tướng của Thiên Địa. Có Thiên Địa mới có Ông Bà. Có Ông Bà mới có Cha Mẹ và chúng ta mãi mãi về sau, nên con người phải biết cội nguồn là đây:
Hiếu tùng Thiên Địa, Tổ Tông Đường.
Cha Mẹ, Ông Bà cho thể xác. Cha Mẹ Thiên Địa cho Linh Hồn
Thiên Địa thị chi Ngoại Tổ Tông,
Thiên sinh, Địa dưỡng luật âm công.
Ngoại Tông, Nội Tổ chung hòa hiệp,
Khai xuất nhơn hình Tạo Hóa trong.
“ Hiếu tùng Thiên Địa” trong Tôn giáo thờ cúng nhưng không hiểu lý thì chưa đủ.
·  Thiên cho ta tánh thiện hằng biết “ Giác “. Vậy ta đừng làm điều bất thiện, mê tối , đó là Tùng Thiên.
·        Địa cho ta ngũ cốc vạn loài để nuôi thể xác có ích cho nhân quần. Vậy ta thọ
hưởng đừng làm điều vô ích đối với nhân quần xã hội loài người và vạn vật thì đó là Hiếu tùng Thiên Địa, đối phẩm Thánh, Tiên, Phật.

2-    Hiếu kính Sư Thầy, Phụ Mẫu : Ân “ Trung Thiên “.
-         Luận Sư Thầy :
Sư Thầy dạy ta làm người sống hiểu biết, hữu ích. Nếu có thể xác mà không được dạy bảo thì chẳng ích gì cho nhân quần, chẳng ích chi cho mình. Xưa mỗi người lớn lên, cha mẹ cho theo một Thầy nào đó để học nhân cách, lễ nghĩa làm người. Ân đó, giáo dỗ, sanh dưỡng đạo đồng.

Dưỡng tử bất nghiêm Phụ chi hóa,
Giáo tử bất nghiêm Sư chi đọa.

Còn đời nay có khác nhưng không thể quên câu : “ Tôn Sư trọng Đạo “, “ Nhất tự vi Sư, bán tự vi Sư “. Công dạy bảo một đứa bé không biết gì mà cho đến thành nhân đủ có ích cho đời thì công kia cũng sánh bằng non.

Công ơn Thầy Tổ sánh bằng non,
Lòng nặng tôn thờ, dạ sắt son.
Chí quyết nên người bồi đắp trả,
Không thôi ân hận ở lòng con.

-         Luận Phụ Mẫu :
Nói đến công ơn Cha Mẹ thì không có viết mực nào tả hết. Cao như Thái Sơn, rộng như biển cả, chẳng thể luận bàn, như hàn sĩ xin luận ra vài ý nhỏ trong Thiên Tự Hiếu Kinh :
Cha Mẹ cho ta hình hài, nuôi dưỡng từ tấm bé cho đến thành nhân thì biết bao nhiêu là khổ cực, ăn đắng, nuốt cay, tanh hôi, dơ thối đều giành hết, để cho con được mạnh lành, đầy đủ như người. Công ơn đức đó ta nỡ quên sao ?
Con người sanh ra trên cõi thế, ai ai cũng có cha mẹ nhưng hữu phước còn hay không mà thôi. Nếu không còn thì phải nhờ ta lập công, bồi đức, hành đạo, lập thân lưu danh hậu thế để báo đáp. Nếu còn tại thế thì phải tôn trọng, hiếu kính, luôn luôn hằng ghi nhớ mãi chí thành trong tâm dạ.

                             Mỗi đêm thắp nén đèn Trời,
                     Cầu xin Cha Mẹ sống đời với con.
Đừng lầm “ hiếu “ với “ kính “ . Dâng cơm, dâng nước, đó là kính bên ngoài mà xuất phát từ hiếu thành bên trong.
Hàn sĩ thấy quý vị nuôi con, còn nhỏ cưng chiều đủ hết. Con không ăn thì nói ngọt, làm vui cho con ăn. Khi con đi ngoài thì quét dọn vui lòng không hề phiền trách.
Cha mẹ nuôi ta cũng thế, vậy có kẻ xem cha Mẹ mình thua đứa con mình là khác, có giận không ?
Cha Mẹ bịnh, già, ăn uống khó khăn thì to lời, lớn tiếng, đó là bất kính rồi, đâu bàn đến chữ Hiếu.
Khi Cha Mẹ bịnh già yếu, không tự chủ thân tâm, tiêu tiểu thất thường thì mặt mày nhăn nhó, cằn nhằn, cưởi chưởi, bịt mồm,bịt mũi, đó là bất kính rồi.

Hiếu lành làm mãi vẫn chưa thanh,
Bất kính Song Đường đọa kiếp sanh.
Nhơn thiện như thể đặng nguyệt sáng,
Tâm lành khởi ác, ác tâm sanh.
Trước lành, sau dữ, không an phận,
Trước dữ, sau lành, thế rạng danh.
Hiếu kính trên đời nên vẹn giữ,
Hiền từ, hiếu trọn, cõi Thiên sanh.

Sao ta nuôi con ta được như thế ! Cha Mẹ nuôi ta được như thế.
Còn ta nuôi Cha Mẹ có được như thế không ?
Hỡi những người con hiếu tử !
Hàn sĩ thấy quý vị vào chùa lễ Phật, đó gọi là Cảm Ứng. Khi lòng ta Cảm thì Phật đã Ứng rồi, nhược bằng phải đến Tây Phương hay vào Sơn Tự.
Còn lạy tỏ lòng thành kính bên trong mỗi người vì cảm công đức Phật khổ công tìm ra Chân Lý, chỉ cho người nhận biết tâm tánh của chính mình, vậy mà mọi người biết ơn sùng kính, bái lạy.
Còn Cha Mẹ cho ta tất cả, cao quý thế vậy mà ta không lễ bái sùng kính Cha Mẹ như sùng kính Phật vậy a !

        Phật ở đâu xa, Phật ở nhà,
        Phật là người dưỡng, đẻ ra ta.
        Tầm đâu cho có hai người Phật.
        Cắt ruột, banh da, tạo nấng ta ?

Nếu chúng ta không hiểu biết được như thế thì vào chùa lạy Phật chẳng linh, vì lúc đó chỉ có hình cây, tượng gỗ, chớ không có Phật thì lạy có ích gì ?
Không thể đồng thinh tương ứng, đồng khí tương cầu, do đó không cảm ứng được. Phật, Tiên, Trời dụng chỗ hiếu kính để cảm ứng cho sự vận chuyển của Bát Hồn, nếu ta đánh mất thì chắc một điều là phải trở lại cây cỏ, gỗ đá, vì cũng không thể đồng với loài thú được. Con quạ, khi mùa đông giá rét còn biết mổ lấy thịt mình để nuôi lấy cha mẹ già. Hành động đó, nghĩa cử đó, chúng ta có bằng chăng ?
A di Đà Phật. Hoan hỉ ! Hoan hỉ !

Công ơn Cha Mẹ sánh Trời cao,
Đức rộng, ân dầy nặng biết bao.
Sanh dưỡng, cưu mang nhiều khó nhọc,
Thành nên hiền hiếu, dạ còn nao.

3-    Hiếu thuận Quân Vương, Đồng bào.
* Quân Vương là Vua Chúa, Quan quyền.
          * Đồng bào là Thần dân, Bá tánh.
          Tại sao ta phải hiếu thuận với Vua Chúa ?
Lịch sử mỗi đất nước đều có một vị Vua và, giờ là Chủ Tịch nước và Thủ Tướng. Nhờ những vị này đủ đức, đủ tài chăn dân, trị nước; Đối nội đem cơm no, áo ấm, dạy kỹ nghệ công thương để dân giàu, nước thịnh. Đối ngoại, thông thương buôn bán, trao đổi để cho dân được hưởng những gì tốt đẹp nhứt. Như khi đất nước có ngoại biên xâm chiếm thì những vị nầy nằm gai, nếm mật, da ngựa bọc thây, xương phơi đầy đất, máu chảy thành sông để dành hai chữ yên bình cho chúng ta, công đức đó sánh cũng không nhỏ.
Chúng ta sống trong một đất nước, ăn một cọng rau, hưởng một ngọn cỏ, đều phải nhớ đến công ơn những người đã ngã xuống để cho ta được yên bình. Theo Đạo Nho : “ Quân minh, Thần trung”, “ Quân xử Thần tử, Thần bất tử bất trung. “
Đó là những người quân tử đối phẩm Hiền, Thần, Thánh, xem trọng trung can, nghĩa khí, chết vinh hơn sống nhục, thọ ân Quân Vương xả thân báo đáp. Đó là Hiếu thuận.
-         Luận đồng bào :
Mỗi chúng ta ai cũng như nhau, nửa kiếp người là vay mượn của đồng bào,
sanh chúng. Có người trả được, có người chưa trả được, phải chờ kiếp sau, cứ thế luân hồi mãi. Ví dụ thực dụng, ta ăn mỗi ngày, đó là vay của nông phu tảo tần mưa nắng. Áo ngự hàn để che thân thì vay mượn những người chăn tằm, dệt vải, tảo tần sương khó.
          Tóm lại những phương tiện vật dụng mà ta có là nửa quảng đời đã vay mượn những người chung quanh. Từ khi còn nhỏ cho đến tuổi trưởng thành thì chỉ vay và mượn. Khi thành nhân mới có cơ hội báo đáp, có ích cho đồng bào, sanh chúng.
Vậy mà có những người chỉ biết đón nhận mà không biết đáp từ, thật uổng kiếp được làm con người, Cái người chung một thể.

Lẽ gì sanh đặng kiếp con người,
Đặng kiếp con người chớ dể ngươi.
Nợ nước, ơn đời, thân đáp vẹn,
Đáng gương Thần tử, sử soi đời.

4-    Hiếu thành Thân bằng Huynh Đệ.
* Thân bằng: Vợ, con, bạn -“ Tình thâm ”.
* Huynh Đệ: Anh, chị, em - “ Thủ túc ”.
Công ơn anh chị em, bạn bè đối với ta cũng không nhỏ.
Anh chị em là hiện thân của Phụ Mẫu, chăm nom, dạy bảo ta. Anh chị em là những người đồng cam, cộng khổ, chia buồn, gánh đau.
Còn bạn bè, vợ con là những người quạt nồng, ấm lạnh, hoạn nạn có nhau, vui buồn chia sẻ ( tích Lưu Bình-Dương Lễ ) .
Những người này là tay chân của ta, nếu không có những người nầy thì ta không thể làm một điều nào cả, cũng không làm được một việc nhỏ chí đến một việc đại sự to lớn, mà không có được những con người nầy thì ta trở thành vô dụng. Một ngọn gió không thể hình thành một cơn bão mà phải nhờ biết tập trung thành một khối. Nếu muốn được như thế phải có một lòng tin, một Đức Tin tuyệt đối, đó là chữ “ Tín thành “.
          Chữ nghĩa tình chẳng cạn đổi dời,
                   Thân bằng huynh đệ tín lời,
Tín lời : là lời nói uy tín.
“ Nhất ngôn phát xuất, tứ mã nan tri “hay “ Xuất ngôn phá thạch”, đó là lời nói không dời đổi.
Nhất ngôn đúng, vạn ngôn dụng,
Nhất ngôn bất đúng, vạn sự bất thành.
Tóm lại, chữ “Tín lời” là thành thật trong đạo thủ túc tình thâm “ nghĩa tình ” phải được tôn trọng và gìn giữ.

Còn dương thế chớ quên bậu bạn,
Chữ nghĩa tình chẳng cạn đổi dời.
                                  Thân bằng Huynh Đệ tín lời,
              Ân sinh tứ vẹn thảnh thơi Linh Hồn.

Từ phần 1,2,3,4 là phần hữu thể, luận văn tầm lý hình tướng nhận biết của xúc giác và lý trí. Trong Tôn giáo đó là phần Nhơn Đạo nhập thế và cũng là nền móng vững cho nền Thiên Đạo Đại Đạo, siêu phàm, nhập Thánh, kiến chơn đoạt lý.
Vô thể nhận biết của cảm giác vô tướng , tánh “ Huệ “ giải thoát.

II-  VÔ THỂ : TỨ ÂN TRONG ĐẠI ĐẠO.
Tứ ân trong Đại Đạo được đi từ thấp lên cao.
1-    Cõi Hạ Thiên - “ Trần gian ” : Thân bằng, huynh đệ, hiếu thành thuộc thân vị lai, đối phẩm nhơn, phàm phu tục tử “ nửa người, nửa thú”, đó là chữ “Nhơn”.
2-    Cõi Trung Thiên - “Dương gian” : Quân Thần, Phụ Mẫu, Sư Thầy, đồng bào gọi Hiếu thuận thuộc thân hiện tại, đối phẩm Hiền, Thần, Thánh.
              Đó là chữ “ Đại ”.
3-    Cõi Thượng Thiên: “ Cung Đạo “ : Thiên Địa, Tổ Tông : Hiếu tùng, thuộc thân quá khứ, đối phẩm Thánh, Tiên, Phật. Đó là chữ “Thiên “.
Dẫn nhập :
-         Hạ Thiên “ trần gian”, cõi ái tình, phàm nhơn: Hiền.
-         Trung Thiên “ Dương gian “ , cõi tâm tình : Hiền, Thần, Thánh.
-         Thượng Thiên “ Cung Đạo “ , Cõi tánh tình : Thánh, Tiên Phật.
+ Thượng Thiên thuộc Tánh hay Thần, gọi Thiên.
+ Trung Thiên thuộc Tâm hay Khí, gọi Nhơn.
+ Hạ Thiên thuộc Phách, Vía hay Tinh, gọi Địa.
Hàn sĩ xin quí vị nhận biết rằng : Học Đạo là tầm lý, bất luận văn tá vật Xiển Đạo, đừng câu nệ hình thức văn tự, hãy đến với đồng cảm và hiệp nhứt với Tự Tánh.
·        Duy ngôn Lão Tử :
+ Không nghe bằng lỗ tai mà nghe bằng Lòng, không nghe bằng Lòng mà nghe bằng Khí Lý “ Tâm”.
+ Không thấy bằng mắt mà thấy bằng Lòng, không thấy bằng Lòng mà thấy bằng Thần Thức “ Tánh”, vì kẻ thù của Đạo là cái “ Trí ”.
-   Trí thức là “ Hoa “ của Đạo mà là đầu của ngu dốt, phàm nhơn, Hiền “ Mê ”.
-   Huệ thức là “ Trái “ của Đạo mà là nhân “ hạt ” của tự tánh Thánh, Tiên, Phật : “ Giác ”.

2.1- Hiếu thành : Thân bằng, Huynh đệ , “ái tình ”.
Cõi trần gian đây là cõi âm “ địa “, chủ nó là thể xác làm việc bằng xúc giác. Xác thịt lờ mờ, suy nghĩ, tìm hiểu, tính toán. Trần ở đây là trần tục, trần cấu, đó là Âm phủ.
+ Thầy Thượng Đế dạy : “ Dương gian, Âm phủ đồng nhứt Lý”, có nghĩa đây tuy hai nhưng có một chỗ, một nơi mà thôi.
Cũng như chữ “ Nhơn “  (人)   gồm một Âm, một Dương.
Âm là địa, Dương là Thiên. Thiên Địa phối ngẫu lộ nhơn hình nên con người sánh đồng Thiên Địa vậy. Cái con người ở trần gian có một thiện, một ác. Đạo Âm Dương ở cõi nầy là Tinh Khí.
-   Thiện : đại diện cho chữ “Tình” gọi thường tình, tâm dạ hiền từ, lương thiện, uy tín giúp người, thương vật.
-   Ác : đại diện cho chữ “ Ái”, tham lam, ích kỷ, xấu xa, đê tiện, thù hằng, giành giựt, cấu xé với đồng loại nên Ơn Trên gọi cõi trần gian là nơi Dục giới, nửa người, nửa thú. Đó là hình nhơn đầu thú. “ Phàm tâm sanh, Đạo tâm tử ” : Luân hồi.
Muốn được giải thoát, chuyển nghịch lại “ Đạo Tâm sanh, Phàm Tâm tử ” thì phải hiểu rõ Chơn- Giả, hành y chánh thể thì cũng có cơ duyên đặng.
Đó là cải ác tùng thiện, làm theo cảm giác của thần thức “ tri giác ” kiềm chế, loại bỏ những xúc giác đam mê, chiều theo xác thịt của trí giác, do đó quý vị cần phải : “ Học, hỏi, biết, hành “ là thế.
Hàn sĩ diễn giải một phần cho quý vị thấy ở cõi nầy Cái con người bất hiếu với cha mẹ, ông bà, Thiên Địa như thế nào nhé.
“ Vạn Kinh, Hiếu, Lễ, Nghĩa vi tiên ”.
Có nghĩa là trăm Kinh, vạn quyển đều lấy chữ Hiếu là đầu, lấy chữ Lễ làm căn cội, lấy chữ Nghĩa để hành sự.
Hiếu Hạnh cũng có muôn ngàn cách vậy. Hàn sĩ xin luân một phần trong Hiếu Hạnh.
                     Thân thể phát phu thọ chi Phụ Mẫu.
Đạo Nho luận : Thân thể nầy của cha mẹ cho ta, ta phải gìn giữ không làm cho nó mau hư hoại, không được cho người đánh đập làm đau đớn đến thân thể mình. Phải dùng thân nầy làm tiếp những hoài bão của cha mẹ dang dở. Đem thân nầy giúp ích cho người làm rạng danh cha mẹ. Vậy mà ta không làm thế. Làm ngược lại mà cũng gọi là con có hiếu. Có phải cõi đời Thần Thánh hết, con người không còn nhận biết điều nầy chăng ?
Thầy dạy kẻ ăn thịt, uống rượu mà bàn nói Đạo Đức là kẻ dối láo. Những kẻ ăn thịt, uống rượu mà nói đến hiếu tử, đó là đại bất hiếu. Hàn sĩ thấy khó rồi …!..!...
Vì chúng ta đang nối giáo cho giặc, giúp tử thần mau đến lấy thân thể mình mà hiếu nỗi gì ? Mỗi ngày ta lấy chất bất tịnh để đầu độc cơ thể và giết chết Linh Hồn.
+ Đầu độc cơ thể : Rượu, bia, trầu, thuốc là những chất kích thích làm suy giảm tuổi thọ, đó là ta đang hủy hoại thể xác mà cha mẹ đã cho, có phải là bất hiếu không ?
+ Giết chết Linh Hồn : Đó là dùng xác động vật “ Thịt ” và tham ái dục.
Chắc có lẽ quý vị ai cũng biết Thầy dạy muốn giải thoát cần phải ăn chay vì lợi ích của ăn chay đối với Tâm linh như thế nào rồi chứ ? Hàn sĩ không dẫn giải ở đây. Hàn sĩ xin nói về “ Ái dục”.
Nói đến “Ái dục” thì trong Đại Đạo nói đến Ngươn Tinh. Quý vị nên biết một điều hết sức quý trọng là một giọt tinh bằng bảy giọt máu mà bảy ngày con người hấp thụ ăn uống vạn loại “ ngũ cốc “ để sanh một lần Tinh. Người tu Đại Đạo nên nhớ khẩu khuyết “ Tinh đầy, Huyết đủ. Huyết đầy, Khí đủ. Khí đầy, Thần đủ ”.
Vậy mà chúng ta nuông chiều thể xác, ham mê ái dục để hủy hoại Ngươn Tinh của mình, phụ tình của Địa, chống báng với Thiên, bất hiếu với Tông đường, vì Ngươn Tinh có thể làm tráng kiện cho thể xác mà còn khai xuất tánh huệ cho Linh Hồn và còn có nhiệm vụ duy trì nòi giống cho Tông đường.
Tóm lại, cõi trần gian, Cái con người muốn được giải thoát thì bảo Tinh để hóa Khí, thuận thì tạo hình hài nhập thế, nghịch thì thuận tùng Thiên Địa xuất thế.
          Tinh ở đây là thân bằng chi ái,
Khí ở đây là huynh đệ chi tình.
Tinh Khí chỉ là một vô thể, Thân bằng Huynh Đệ chỉ là một hữu thể, nên muốn dưỡng được Tinh Khí thì phải cần chí thành tâm dạ. thân bằng huynh đệ là phàm phu. Muốn xuất tánh cho Đạo “ Hiền, Thần, Thánh “ thì cũng phải Chí Thành đến Tín Lời, chỉ một không hai. Được như vậy gọi là “ Nhơn đắc nhất “ . Chữ Nhơn  (人) đắc nhứt biến thành chữ  Đại  (大) . Chữ Nhất ở đây là chữ “ tín “ Tâm, thế đạo động tịnh.
Đạo ở phàm phu thân bằng, huynh đệ là vậy.

2.2- Hiếu kính, hiếu thuận  Quân Thần, Phụ Mẫu, Sư Thầy “ Dương gian “ Tâm tình.
Dương gian đây chỉ cõi dương của nhơn đắc nhất thành chữ Đại (大).
Đắc nhất ở đây muốn nói đó là chữ “ Tâm “, Âm kinh phù.
Luận giải Âm kinh phù .
Âm ở đây không còn trọng trược, trần cấu, nặng nề, mà âm kinh phù là được hóa khí bay lên cũng như nước và hơi nước vậy. Như vẫn còn ít nước, đó gọi là vi trần “ Tâm niệm ” từ phàm nhu nhơn (人) chuyển qua Hiền, Thần, Thánh.
“ Tâm tình ” vô thể Đạo ở cõi nầy là Khí Huyết, “ Tâm Tình ”.
+ Khí thuộc Tình : Khí nầy được un đúc từ tà khí của phàm phu, được tôi luyện đạo gọi công phu chí thành sắt mới thành thép.
Thế đạo gọi đó là công phu, vì lấy từ tà khí của tiểu nhơn để được tinh hoa trung can, nghĩa khí “ Quân tử ” chánh khí, nhưng khí ở đây vẫn còn tà khí vì khí nầy của vật chất hồn thân phàm “ Ngươn Tinh ”.
Cõi dương gian, chủ nó là cảm giác “tri giác ” cõi hồn, cõi của tâm thiện, như phải được hằng dưỡng bất ly đoạn, luôn luôn gìn giữ mới được vì nó vẫn còn vật chất sở câu, khí huyết sở tế, dễ đi về đường cũ bất thiện thể dụng đạo gọi là công trình.
Muốn duy trì được chánh khí nầy thì con người ở đây phải là chánh nhân quân tử, ân đền, nghĩa trả, trung với Vua, xả thân vì nước để đáp đền, nghĩa với Sư Thầy, đồng bào tôn trọng, thờ kính để báo ân. Được như thế dù chết cũng không khác gì Quan Thánh Chi Vị “ Cát bụi thành pha lê “.
Tâm huyết : chữ “Huyết” đây là thể đạo ở dương gian dù đi đến tận cùng của thời gian vẫn không hề thay đổi. Còn rất nhiều điều huyền bí còn đương ẩn tàng nơi đây. “ Huyết “, hàn sĩ xin luận một phần.
Nói đến loài người trong xã hội thì phải nói huyết thống, đó là nguồn cội Tổ Tông, Ông Bà.
+ Như trong Đại Đạo Thầy có dạy : “ Huyết là sự sống đem đến nuôi các tế bào. Chỗ nào huyết không đến đồng nghĩa với sự chết. Chỗ nào tồn tại và luân lưu sự sống, đó là hiện thân của Thầy, vì Thầy là sự sống đối nghịch với sự chết.”
Hồng Quân Đạo Tổ

Thế gian thường nói Ông Bà, Cha Mẹ làm để phước đức lại cho con cháu.
Hàn sĩ xin làm sáng tỏ chỗ nầy để biết giá trị của huyết thống vì nó là Đạo nhơn luân “ lưu truyền”.
Chữ Phước : Hiểu theo thế thường , phàm là người giàu có vật chất, phương tiện của cải, cha mẹ, anh chị em, bạn bè, nói chung những gì có đem đến thuận lợi gọi là phước. Còn hiểu theo Đạo thể của Thánh nhân :
   Thánh nhân dụng Đạo bất dụng thực,
   Phàm nhân dụng thực bất dụng Đạo.
Chúng ta được hưởng như thế là một phần nhờ Ông Bà, Cha Mẹ để lại và một phần nhờ tiền kiếp của ta tạo. Làm phước giúp người những việc gì lợi cho người, cho vật, đó gọi chung là phước. Làm phước để lưu tử tôn là vậy.
Xin quý vị phải hiểu thực thể, không phải ta giúp người, giúp vật rồi sau con cháu ta được người, vật đền trả, đó là sai lý. Mà đương tiền ta làm phước như thế là làm gương cho con cháu thấy noi theo, đó mới đúng Đạo Lý.
Còn chữ Đức thì làm sao làm để lại cho con cháu ? Phước thì làm đặng, đức thì làm sao ?
Nếu không vào Đạo tu học, nếu không nhờ được Ơn Trên chỉ dạy thì dù đến muôn kiếp Cái con người chúng ta cũng không tri ngộ cho rõ “ chữ Đức” để biết thực hành và gìn giữ.
Thầy dạy : “ Bực Đại Đức là Tâm Không vô niệm cầu”.
          Thường hằng Vô niệm, thượng chi đức,
          Thường hằng Chánh niệm, trung chi đức.
Thường hằng Thiện niệm, hạ chi đức.
Chữ “ Đức ” ở đây là căn cội gốc rễ của con người mà được thẩm thấu bên trong tận cùng của xương tủy, luân lưu khắp các tế bào để được lưu truyền bởi Ông Bà, Tổ Tông ngày xưa, khẩu chay vô tâm niệm để nuôi và trưởng dưỡng cái Đức.
Còn chúng ta bây giờ làm hư cái Đức của Tổ Tông, Ông Bà, Cha Mẹ : không chay tâm niệm.
Do đó xưa hàng Thần Thánh không thiếu, còn nay khó gặp là do cớ sự nầy.

TỔNG LUẬN :
Ông bà, Cha Mẹ, Tông đường để đức “ Huyết ” giống máu lưu truyền cho con cháu, hiền lành hay dữ cũng là đây.
Quý vị nên nhớ Phật dạy : “ Tất cả sự đau khổ ở thế gian xuất phát từ lòng ham muốn : Ham muốn đó là Tâm niệm, khi Tâm niệm mất đi, Tự Tánh vốn không, đó gọi là Đức”.
Tóm lại, ở cõi dương gian, Hiền, Thần, Thánh muốn giải thoát tiến hóa đến Thánh, Tiên, Phật, Trời thì chỉ có một con đường duy nhất đó là :
          Nhứt tâm bất loạn,
Chánh niệm thường hằng.
Tánh không kiến giác.
          Vậy đã đạt được chánh định, sanh Huệ, gọi là giác hay Thần. Chỉ có một thế là đại nhơn  (人)  đắc nhất biến thành chữ Thiên        ; Trời Đạo ở dương gian tịnh động “ Khí Huyết” hiệp nhất sanh Huệ, Giác, Thần.

2.3- Hiếu tùng Thiên Địa Tổ Tông : “ Cung Đạo, “ Tánh tình”.
Cung Đạo cõi hữu Niết bàn của phẩm đại nhơn đắc nhất biến thành chữ Thiên         ở đây muốn nói đó là “ Tánh “ thuần dương, như có xác phàm nên ngoại dương hữu âm, thực tướng là Trí Huệ.
          + Âm ở đây là tâm “ Trí “ , thuộc tình của phẩm đại nhơn “ Hiền, Thần, Thánh” chưa đoạn diệt thiệt hết tâm niệm ở trí của thể xác gọi “ Tâm “, cũng như mặt nươc biển luôn luôn lăn tăn gợn sóng. Đó là trí dù ta nghĩ hiền, thiện hay ác gì cũng gọi niệm trần vì cõi nầy là cõi tánh vô niệm. Thánh, Tiên, Phật, “ Bồ Tát sợ nhân “ là đây. Dù nhân lành hay nhân không lành thì cũng là chướng đạo cả.
Tâm niệm thuộc về “ Trí ”: “ Lục nhĩ kiến hầu ”.
          + Dương ở đây là Tánh:“ Huệ, Thần, Giác ” của phẩm Thánh, Tiên, Phật.
Vô niệm luôn luôn hằng giác, đó là Chơn Không Tự Tánh.
“ Không “ ở đây là “Giác”. Biết chớ không phải không của không biết, vì không của không biết đồng gỗ đá, cây cỏ.
Tánh Giác thuộc “ Huệ Thần ”, gọi Tề Thiên bằng với Trời đó vậy.
Thể Đạo ở cung Đạo là “ Huyết Thần ” , Tiên Đạo gọi đó là “ Khuyết Thần ”  , hiệp nhất đồng Thiên Địa.
Vậy ta đã làm xong trọn phần Tứ Hiếu Tùng Thiên.

Lành thay !
Lành thay !
Dừng bút vào am để dưỡng thần,
Mắt hoa, đầu váng mỏi toàn thân.
Chút duyên dâng Lễ Tiên Nương Thọ,
Cảm đức Nữ Đoàn kết nghĩa thân.

                             Võ Hồng Thọ
Chùa Bát Bửu Điện, Bến Tre.



Nguồn: Võ Hồng Thọ

Cùng một đề tài:
· QUÁ QUAN PHỤC THỰC ngày 12/22/16
· Thông điệp từ bộ lạc kogi (tt) ngày 12/29/13
· Chìa khóa mở cửa Bạch Ngọc Kinh ngày 11/22/11
· Công phu ngày 10/08/11
· Chơn nhơn ngày 10/08/11
· Vào đời độ chúng lập công ngày 10/08/11
· Sống Đạo ngày 10/08/11
· Chiến thắng vạn quân không bằng tu chiến thắng mình ngày 10/08/11
· Kỷ niệm ngày Đạo-Đức Kim-Tiên qui vị ngày 02/27/10
· Học lời Đức Như Ý Đạo Thoàn Chơn Nhơn về công phu ngày 03/06/09
· Ích lợi của công phu và công dụng của tịnh trường ngày 03/06/09
· Mùa xuân với người giáo sĩ ngày 03/06/09
· Tham dự khóa tu tại Bác Nhã Tịnh trường ngày 03/06/09
· Câu chuyện thành nhân ngày 03/06/09
· Nên người sứ mạng ngày 03/06/09
· Từ gía trị tâm linh đến giá trị tâm linh siêu việt ngày 03/06/09
· Học lời Đức Cao Triều Tiền Bối dạy thế hệ trẻ ngày 03/06/09
· Ngọc Trì lên đường tu ngày 03/06/09
· Nhật ký mùa tu Hạ Chí 2008 (Mậu Tý) ngày 03/06/09
· Nhật ký mùa tu Thu Phân 2008 (Mậu Tý) ngày 03/05/09
· TỰ THUẬT CUỘC ĐỜI TU THÂN HÀNH ĐẠO CỦA CHÍ TÍN ngày 06/26/08
· Thánh Địa Tây Ninh và Địa Linh Bến Tre ngày 04/07/08
· Ưu Đạo bất ưu nhàn ngày 02/19/08
· Nét đẹp Giáng Sinh Trong Tình Đạo Cao Đài ngày 01/28/08
· Phục Sinh ngày 01/26/08
· Tại sao ngày lễ Giáng Sanh 25 tháng 12 ngày 01/26/08
· Tưởng niệm Đức Chúa Giêsu ngày 01/26/08
· Suy nghiệm về lễ Giáng Sinh ngày 01/26/08
· Cao Đài Thiên Chúa đến trong Kỳ Ba ngày 01/26/08
· Kinh Thánh Tân Ước qua góc nhìn Cao Đài ngày 01/26/08
 

Cao Đài Đại Đạo 
 Thiết kế : Uha &Nam Long . Xữ dụng: mViệt ,